Chương XLIX. ĐỊNH MỆNH
Trong lúc đó, Milady, quay cuồng trong cơn phẫn nộ, gầm gừ trên boong tàu chẳng khác nào con sư tử cái bị tống vào lồng sắt, chỉ chực gieo mình xuống biển bơi vội vào bờ. Ả không tài nào gạt bỏ được nỗi nhục nhã ê chề khi bị D’Artagnan qua mặt, bị Athos đe dọa, để rồi nay phải rời nước Pháp mà chưa kịp báo thù. Nỗi hằn học ấy nhanh chóng trở nên sức ép vượt quá sức chịu đựng, đến mức bất chấp mọi hậu quả khôn lường có thể ập xuống đầu, ả vẫn nài nỉ viên thuyền trưởng đưa mình trở lại bờ. Thế nhưng vị thuyền trưởng-lúc này đang nóng lòng thoát khỏi tình thế khó xử, kẹt giữa những hạm đội tuần dương của cả Pháp lẫn Anh, tựa như con dơi lơ lửng giữa bầy chuột và đàn chim-chỉ một mực muốn nhanh chóng nhổ neo về nước Anh. Ông ta kiên quyết chối từ điều mà bản thân coi là sự bốc đồng đỏng đảnh của đàn bà. Ông hứa hẹn với vị nữ hành khách, vốn được chính Đức hồng y đặc biệt gửi gắm, rằng sẽ cho ả đổ bộ tại một hải cảng nào đó của vùng Brittany, Lorient, hoặc Brest, nếu biển cả và quân Pháp chịu dung tình. Khổ nỗi, gió cứ thổi ngược chiều còn biển khơi thì động dữ dội; con tàu đành phải chạy dích dắc và giữ khoảng cách xa tít tắp so với đất liền. Chín ngày ròng rã kể từ lúc rời bến Charente, phờ phạc vì mệt mỏi và bực dọc, Milady mới lờ mờ thấy được dải bờ biển xanh ngắt của vùng Finisterre hiện ra nơi chân trời.
Ả thầm nhẩm tính: để băng qua dải đất ven biển này của nước Pháp và trở về bên Đức hồng y, ả sẽ ngốn mất ít nhất ba ngày. Thêm một ngày cập bến, vị chi là bốn. Cứ cộng bốn ngày đó với chín ngày vừa qua, thế là ả đã để tuột mất mười ba ngày-mười ba ngày mà biết bao sự kiện xoay trời chuyển đất có thể xảy ra ở London. Ả cũng lường trước rằng Đức hồng y hẳn sẽ lôi đình thịnh nộ khi thấy ả quay về bằng hai bàn tay trắng, và theo lẽ thường tình, ngài sẽ dễ mủi lòng trước những lời gièm pha nhắm vào ả, hơn là chịu lắng nghe những lời ả buộc tội kẻ khác.
Thế là ả đành trơ mắt nhìn con tàu lướt qua Lorient và Brest mà không một lời nhắc lại yêu cầu cũ với thuyền trưởng. Về phần mình, ông ta cũng làm ngơ tịt đi cho êm chuyện. Vậy là Milady đành nhẫn nhịn tiếp tục chuyến hành trình, và đúng vào cái ngày Planchet bước lên tàu ở Portsmouth để quay về nước Pháp, vị nữ sứ giả của Đức cha đã kiêu hãnh tiến vào bến cảng.
Cả thành phố xôn xao bởi một bầu không khí rộn rã khác thường. Bốn con tàu lớn, vừa được đóng mới tinh tươm, vừa mới hạ thủy hạ buồm. Phía cuối bến tàu, lộng lẫy trong trang phục thêu vàng điểm xuyết kim cương và đá quý sáng rực như thường lệ, chiếc mũ cắm sợi lông vũ trắng muốt rủ xuống tận vai, công tước Buckingham ngạo nghễ hiện ra, vây quanh ngài là một ban tham mưu cũng rực rỡ lóa mắt chẳng kém.
Đó là một trong những ngày mùa đông quang đãng và hiếm hoi mà nước Anh sực nhớ ra rằng mình vẫn còn được tắm mình dưới ánh mặt trời. Ngôi sao ban ngày ấy, dẫu nhợt nhạt nhưng vẫn giữ nguyên vẻ huy hoàng, đang từ từ khuất dạng nơi đường chân trời, nhuộm bầu trời và mặt biển thành những dải lửa rực rỡ, đồng thời hắt lên những ngọn tháp cùng lớp nhà cổ kính của thành phố một tia sáng vàng úa cuối ngày, khiến cho những ô cửa sổ lóe sáng hệt như đang phản chiếu một đám cháy lớn. Căng lồng ngực hít thở bầu không khí mặn mòi của biển cả-thứ không khí dường như càng trở nên trong lành và ngào ngạt hơn khi tiến lại gần đất liền-rồi đưa mắt chiêm ngưỡng toàn bộ quy mô đồ sộ của những cỗ máy chiến tranh mà ả được giao trọng trách phá hủy, toàn bộ sức mạnh của đạo quân hùng hậu mà ả phải đơn độc đối đầu... ả, chỉ là một người đàn bà mang theo vài túi vàng-Milady bất giác thầm so sánh mình với Judith1, nữ anh hùng Do Thái đáng sợ thuở nào, khi nàng dũng cảm thâm nhập vào doanh trại quân Assyria, chứng kiến khối lượng khổng lồ những chiến xa, chiến mã, binh lính cùng vũ khí giáp trụ, thứ mà chỉ bằng một cái phẩy tay của nàng đã tiêu tan như một đám khói mây.
Họ chầm chậm tiến vào vũng tàu; nhưng khi vừa tới gần chỗ bến đậu thả neo, một chiếc tàu cắt nhỏ, mang dáng dấp của một tàu tuần duyên vũ trang hạng nặng, đã lao tới áp sát chiếc tàu buôn và thả xuống một chiếc thuyền nhỏ rẽ sóng đi thẳng đến cầu thang tàu. Chiếc thuyền này chở theo một viên sĩ quan, một thuyền phó và tám tay chèo vạm vỡ. Chỉ duy nhất viên sĩ quan sải bước lên boong, nơi anh ta lập tức được chào đón bằng tất cả sự tôn kính mà bộ quân phục của anh ta xứng đáng được nhận.
Viên sĩ quan trao đổi vài phút với thuyền trưởng, chìa cho ông ta xem vài tờ giấy mệnh lệnh mang theo, và thể theo chỉ thị của thuyền trưởng tàu buôn, toàn bộ thủy thủ đoàn, bao gồm cả hành khách lẫn thủy thủ, đều được triệu tập lên boong.
Khi lệnh tập hợp được ban ra, viên sĩ quan lớn tiếng dõng dạc hỏi về điểm xuất phát của con tàu hai cột buồm, hải trình nó đã đi, cùng các điểm dừng chân dọc đường. Viên thuyền trưởng rành rọt trả lời mọi câu hỏi một cách trôi chảy và không mảy may do dự. Sau đó, viên sĩ quan bắt đầu đưa mắt dò xét kỹ lưỡng từng người một. Khi đến lượt Milady, anh ta dừng bước, quan sát ả thật lâu, nhưng tuyệt nhiên không nói với ả lấy một lời.
Anh ta liền quay gót về phía thuyền trưởng, nói nhỏ vài câu, và như thể từ giây phút đó con tàu đã hoàn toàn nằm dưới quyền chỉ huy của anh, anh ta ra lệnh thực hiện một thao tác mà thủy thủ đoàn lập tức răm rắp tuân theo. Tiếp đó, con tàu lại nhổ neo tiếp tục hành trình, vẫn được hộ tống bởi chiếc tàu cắt nhỏ chạy song song, hăm dọa chiếc tàu buôn bằng những họng súng đen ngòm của sáu khẩu đại bác. Chiếc thuyền nhỏ thì chạy theo luồng nước phía sau tàu, trông chỉ như một chấm nhỏ xíu bên cạnh khối khổng lồ.
Trong suốt quá trình viên sĩ quan xem xét, như có thể dễ dàng mường tượng, Milady cũng dùng ánh mắt dò xét sắc lẹm không kém để quan sát anh ta. Nhưng dẫu cho người đàn bà mang đôi mắt rực lửa này có tài tình đến đâu trong việc đọc thấu tâm can những kẻ ả muốn moi móc bí mật, lần này ả lại vấp phải một khuôn mặt lạnh tanh, vô cảm đến mức cuộc điều tra của ả đành chuốc lấy thất bại ê chề. Viên sĩ quan đã dừng bước trước mặt ả và chăm chú quan sát ả, trông có vẻ trạc hăm lăm hoặc hăm sáu tuổi. Anh ta sở hữu làn da nhợt nhạt, đôi mắt xanh trong vắt và khá sâu. Khuôn miệng đẹp đẽ và thanh tú của anh bất động ở những đường nét chuẩn xác. Chiếc cằm góc cạnh bộc lộ một sức mạnh ý chí kiên định, điều mà ở kiểu người Anh điển hình thường chỉ mang ý nghĩa là sự cố chấp ngoan cố. Vầng trán hơi hói về phía sau, nét đặc trưng thường thấy ở những nhà thơ, những kẻ cuồng tín và giới nhà binh, hầu như không bị che khuất bởi mái tóc lưa thưa và cắt ngắn, mang màu hạt dẻ đậm tuyệt đẹp, rất tiệp màu với bộ râu quai nón bao phủ phần dưới khuôn mặt anh.
Trời đã nhá nhem tối khi con tàu từ từ tiến vào cảng. Lớp sương mù dày đặc càng khiến bóng tối thêm mịt mờ, giăng quanh những ánh đèn đuôi tàu và đèn lồng trên bến những quầng sáng mờ ảo, tựa như vầng hào quang ảm đạm bao quanh mặt trăng vào những đêm trời rục rịch chuyển mưa. Không khí nơi đây quánh lại, ẩm ướt và giá buốt đến thấu xương.
Ngay cả Milady, một người đàn bà vốn nổi tiếng sắt đá và kiên cường, cũng bất giác rùng mình ớn lạnh.
Viên sĩ quan ngỏ ý muốn biết đâu là hành lý của Milady để ra lệnh chuyển tất cả xuống chiếc thuyền nhỏ giong bên mạn tàu. Xong xuôi đâu đấy, anh ta lịch thiệp đưa tay ra đỡ phu nhân bước xuống.
Milady đưa mắt dò xét người đàn ông lạ mặt và thoáng ngần ngại. "Ngài là ai, thưa ngài," ả cất lời hỏi, "mà lại có nhã ý đặc biệt bận tâm đến tôi như vậy?"
"Hẳn phu nhân cũng nhận ra qua bộ quân phục tôi đang mặc, tôi là một sĩ quan thuộc đội hải quân Anh," viên sĩ quan trẻ từ tốn đáp.
"Nhưng lẽ nào các sĩ quan hải quân Anh lại có thói quen tận tình phục vụ những nữ đồng hương khi họ vừa cập cảng tại Vương quốc Anh, ân cần đến mức đích thân hộ tống họ lên bờ cơ chứ?"
"Vâng thưa phu nhân, đó là quy định chung. Chẳng phải vì lịch thiệp gì đâu, mà hoàn toàn xuất phát từ sự cẩn trọng. Trong thời buổi chiến tranh loạn lạc thế này, những người ngoại quốc đều phải được đưa đến các khách sạn đã được chỉ định, nhằm tạo điều kiện cho chính quyền giám sát cho đến khi thu thập đủ thông tin về họ."
Những lời ấy được thốt ra với một thái độ vô cùng lịch nhã và điềm tĩnh đến hoàn hảo. Dẫu vậy, chúng vẫn chẳng thể gạt bỏ được sự hồ nghi trong lòng Milady.
"Nhưng tôi đâu phải người ngoại quốc, thưa ngài," ả đáp bằng một chất giọng trong trẻo thuần khiết mà người ta hiếm khi được nghe ở khu vực giữa Portsmouth và Manchester2. "Tên tôi là Phu nhân Clarik, và cái biện pháp này-"
"Biện pháp này được áp dụng chung cho tất cả mọi người, thưa phu nhân; và phu nhân đừng uổng công trốn tránh nó làm gì."
"Nếu vậy thì tôi sẽ đi theo ngài, thưa ngài."
Đón lấy bàn tay của viên sĩ quan, ả chậm rãi bước xuống những bậc thang hướng về phía chiếc thuyền nhỏ đang dập dềnh chờ sẵn. Viên sĩ quan theo sát bước chân ả. Phía đuôi thuyền đã trải sẵn một tấm áo choàng rộng; viên sĩ quan mời ả ngồi xuống trước, rồi mới từ tốn an tọa ngay bên cạnh.
"Nhổ sào!" anh cất cao giọng ra lệnh cho đám thủy thủ.
Tám mái chèo rào rạt khỏa xuống mặt biển cùng một lúc, vang lên một âm thanh đồng điệu, tạo nên một nhịp chèo dứt khoát, đẩy con thuyền lướt đi vun vút tựa như đang bay trên mặt sóng.
Chỉ chưa đầy năm phút sau, con thuyền đã cập bến.
Viên sĩ quan nhanh nhẹn nhảy lên bến tàu rồi chìa tay ra đỡ Milady bước lên. Gần đó, một cỗ xe ngựa đã chực chờ sẵn từ bao giờ.
"Cỗ xe này là dành cho chúng ta ư?" Milady cất tiếng hỏi.
"Vâng, thưa phu nhân," viên sĩ quan đáp.
"Vậy khách sạn nằm cách đây có xa không?"
"Nằm ở tận đầu kia của thị trấn."
"Thế thì tốt," Milady khẽ gật đầu; đoạn ả dứt khoát bước lên xe.
Viên sĩ quan nán lại đôi chút để xem xét mớ hành lý đã được chằng buộc cẩn thận phía sau thùng xe; khi mọi bề đã đâu vào đấy, anh ta mới bước lên xe, ngồi cạnh Milady và kéo sập cửa lại.
Ngay tắp lự, chẳng đợi ai phải buông lời ra lệnh hay chỉ dẫn điểm đến, người xà ích đã quất roi cho đôi ngựa phi nước đại, lao vút vào những con phố tĩnh lặng của thị trấn.
Cung cách đón tiếp kỳ lạ này nghiễm nhiên gợi lên trong đầu Milady biết bao mối hoài nghi; vậy nên khi nhận thấy vị sĩ quan trẻ chẳng hề có ý định bắt chuyện, ả bèn ngả lưng vào góc xe, lặng lẽ mường tượng và xâu chuỗi lại mọi manh mối đang bủa vây trong tâm trí.
Thế nhưng, sau chừng một khắc đồng hồ trôi qua, thấy chuyến đi có vẻ kéo dài một cách bất thường, ả nhoài người tới trước khung cửa sổ đặng xem mình đang bị đưa đi đâu. Bên ngoài, những nếp nhà đã hoàn toàn nhường chỗ cho những bóng cây cối đen ngòm, chập chờn lướt qua trong đêm tối tựa như những bóng ma khổng lồ đang đuổi bắt nhau. Milady thoáng rùng mình.
"Nhưng chúng ta đã ra khỏi thị trấn mất rồi, thưa ngài," ả lên tiếng.
Viên sĩ quan trẻ vẫn tịnh không nói lấy nửa lời.
"Xin ngài hiểu cho, thưa ngài, tôi sẽ quyết không đi thêm bước nào nữa trừ phi ngài cho tôi biết ngài đang định đưa tôi đi đâu."
Lời đe dọa dằn hắt ấy rơi tỏm vào thinh không, chẳng đổi lại được lấy một lời đáp trả.
"Ồ, thế này thì quá quắt lắm rồi!" Milady hoảng hốt kêu lên. "Cứu với! Có ai cứu tôi với!"
Không một thanh âm nào vọng lại đáp lời ả; cỗ xe ngựa vẫn điên cuồng lao đi trong đêm với tốc độ kinh hồn; viên sĩ quan nọ vẫn trơ trơ tựa một pho tượng đá.
Milady trừng mắt nhìn viên sĩ quan bằng một vẻ mặt đáng sợ, thứ vũ khí sắc lẹm đặc trưng hiếm khi nào chịu khuất phục của ả; cơn thịnh nộ hừng hực khiến đôi mắt ả tóe ra những tia lửa sáng quắc cả màn đêm.
Chàng trai trẻ vẫn điềm nhiên bất động.
Cùng đường, Milady loay hoay định mở tung cửa xe hòng lao bừa ra ngoài.
"Cẩn thận đấy, thưa phu nhân," chàng trai trẻ cất giọng lạnh tanh. "Nhảy xuống lúc này thì phu nhân chỉ có nước bỏ mạng thôi."
Milady hậm hực ngồi phịch xuống chỗ cũ, tức đến ứa gan. Viên sĩ quan rướn người tới; đến lượt anh chăm chú quan sát ả, rồi tỏ vẻ sững sờ khi thấy gương mặt thanh tú, mỹ miều ban nãy giờ đây lại méo xệch đi vì thịnh nộ, hằn lên những nét dữ tợn khó coi. Lập tức, người đàn bà lõi đời này nhận ra rằng mình đang phạm phải sai lầm chết người khi trót để lộ chân tướng trước mặt anh ta. Ả vội vàng thu lại vẻ mặt cay độc, chuyển sang một tông giọng ai oán, não nề:
"Nhân danh Đức Chúa Trời, thưa ngài, xin ngài hãy nói cho tôi hay: tôi phải oán trách ngài, oán trách chính quyền của ngài, hay oán trách một kẻ thù giấu mặt nào đó đã gây ra hành động thô bạo này đối với tôi?"
"Nào có hành động bạo lực nào giáng xuống đầu phu nhân đâu; tất thảy những gì đang diễn ra ở đây chỉ đơn thuần là kết quả của một biện pháp quy chuẩn mà chúng tôi buộc phải áp dụng đối với mọi hành khách cập bến tại nước Anh mà thôi."
"Vậy ngài không biết tôi là ai ư, thưa ngài?"
"Đây mới là lần đầu tiên tôi có vinh hạnh được diện kiến phu nhân."
"Thế ngài dám lấy danh dự của mình ra thề rằng ngài chẳng có lý do gì để thù ghét tôi chứ?"
"Hoàn toàn không, tôi xin thề với phu nhân."
Chính sự điềm nhiên, dửng dưng đến mức nhu hòa trong giọng điệu của chàng sĩ quan trẻ đã khiến Milady phần nào an lòng trở lại.
Cuối cùng, sau chuyến đi dài chừng một giờ, cỗ xe ngựa cũng đỗ lại trước một cánh cổng sắt. Cánh cổng này khép kín con đường dẫn vào một tòa lâu đài đồ sộ, kiên cố và nằm hoàn toàn tách biệt. Ngay khi bánh xe vừa lăn qua lớp sỏi mịn, Milady chợt nghe thấy một tiếng gầm gào dữ dội, âm thanh mà ả lập tức nhận ra là tiếng sóng biển đang cuồng nộ vỗ vào những vách đá dựng đứng.
Cỗ xe lộc cộc đi qua hai cổng vòm, rồi dừng lại giữa một khoảng sân vuông vức, rộng lớn nhưng u tối. Gần như ngay lập tức, cửa xe mở tung. Chàng sĩ quan trẻ nhẹ nhàng bước xuống, chìa tay về phía Milady. Ả vịn vào tay anh, chậm rãi bước xuống với vẻ mặt khá bình thản.
“Vậy ra, tôi vẫn là một tù nhân,” Milady cất tiếng. Ả đưa mắt nhìn quanh, rồi quay sang nhìn viên sĩ quan trẻ bằng một nụ cười đầy duyên dáng. “Nhưng tôi tin chắc rằng tình cảnh này sẽ chẳng kéo dài đâu,” ả nói thêm. “Lương tâm của tôi cùng sự lịch thiệp của ngài chính là những bảo chứng vững chắc nhất cho điều đó.”
Thế nhưng, dẫu cho lời khen ngợi kia có ngọt ngào và bùi tai đến mấy, viên sĩ quan vẫn tịnh không đáp lời. Thay vào đó, anh rút từ thắt lưng ra một chiếc còi bạc nhỏ - thứ mà các thuyền phó thường mang trên tàu chiến - và thổi ba hồi với ba âm điệu khác biệt. Tức thì, vài gã đàn ông xuất hiện, nhanh tay tháo dây cương những con ngựa đang vã mồ hôi nghi ngút rồi đẩy cỗ xe vào trong khu nhà chứa.
Sau đó, vẫn giữ thái độ nhã nhặn và điềm tĩnh, viên sĩ quan ngỏ ý mời nữ tù nhân bước vào trong. Milady, với nụ cười không hề tắt trên môi, thản nhiên khoác lấy tay anh. Hai người cùng bước qua một cổng vòm thấp nương theo một lối đi có mái vòm chỉ le lói chút ánh sáng ở tít tận cuối đường, rồi dẫn đến một cầu thang xoắn ốc bằng đá. Họ dừng lại trước một cánh cửa kiên cố. Chàng trai trẻ tra chiếc chìa khóa mang theo vào ổ; cánh cửa nặng nề xoay trên bản lề, mở ra căn phòng đã được sắp đặt sẵn cho Milady.
Chỉ qua một cái liếc mắt, nữ tù nhân đã kịp thu trọn vào tầm nhìn từng chi tiết nhỏ nhất của căn phòng. Cách bài trí đồ đạc nơi đây tỏ ra phù hợp cho cả một tù nhân lẫn một người tự do; song, chính những song sắt chắn ngang cửa sổ cùng hàng chốt khóa bên ngoài đã khẳng định chốn này đích thị là một nhà giam.
Trong một thoáng, bao nhiêu sức mạnh tinh thần của người đàn bà này, dẫu từng được bồi đắp từ những cội nguồn mãnh liệt nhất, bỗng chốc tan biến sạch sành sanh. Ả buông mình xuống một chiếc ghế bành lớn, hai tay khoanh trước ngực, đầu gục xuống, đếm từng giây chờ đợi một vị quan tòa bước vào để bắt đầu buổi thẩm vấn.
Thế nhưng, chẳng có bóng dáng vị quan tòa nào xuất hiện. Chỉ có hai ba gã lính thủy đánh bộ lặng lẽ khiêng rương hòm và hành lý của ả vào, đặt chúng vào một góc, rồi lui ra mà chẳng buồn hé răng nửa lời.
Viên sĩ quan cẩn trọng giám sát mọi việc với dáng vẻ bình thản như mọi khi. Bản thân anh cũng tịnh không thốt ra một lời, chỉ cần một cái phẩy tay hay một tiếng còi cũng đủ khiến thuộc cấp răm rắp tuân lệnh.
Người ta có cảm giác rằng, giữa người đàn ông này và đám thuộc cấp, ngôn ngữ giao tiếp bằng lời dường như không tồn tại, hoặc đã trở nên hoàn toàn thừa thãi.
Cuối cùng, không thể cắn răng chịu đựng thêm được nữa, Milady đành phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng. "Nhân danh Chúa Trời, thưa ngài," ả lớn tiếng, "tất cả những chuyện đang diễn ra này rốt cuộc có nghĩa là gì? Xin ngài hãy dập tắt những hoài nghi trong tôi; tôi có đủ lòng can đảm để đối mặt với mọi hiểm nguy mà tôi có thể lường trước, mọi tai ương mà tôi có thể thấu hiểu. Tôi đang ở đâu, và tại sao tôi lại bị đưa tới đây? Nếu tôi là một người tự do, thì những song sắt và những cánh cửa khóa kín kia để làm gì? Còn nếu tôi là một tù nhân, thì xin hỏi tôi đã phạm phải tội tình gì?"
"Phu nhân đang ở trong căn phòng được dành riêng cho phu nhân. Tôi nhận mệnh lệnh đi đón phu nhân trên biển và áp giải phu nhân đến tòa lâu đài này. Tôi tin rằng mình đã thực thi nhiệm vụ ấy bằng tất cả sự chuẩn xác của một người lính, song cũng không thiếu đi sự nhã nhặn của một quý ông. Tại đây, ít nhất là cho tới lúc này, bổn phận của tôi đối với phu nhân đã khép lại; phần việc còn lại sẽ do một người khác định đoạt."
"Và người khác đó là ai?" Milady sốt sắng gặng hỏi. "Ngài không thể tiết lộ cho tôi biết tên ông ta sao?"
Đúng lúc đó, tiếng đinh sắt gõ rủng rẻng vang lên trên cầu thang. Vài giọng nói lao xao rồi mờ dần, nhường chỗ cho tiếng bước chân của một người duy nhất đang tiến về phía cửa.
"Người đó đang ở đây, thưa phu nhân," viên sĩ quan nói, đứng nép sang một bên để ngỏ lối vào và giữ tư thế thẳng người đầy tôn kính.
Cánh cửa bật mở; một người đàn ông xuất hiện nơi ngưỡng cửa. Ông ta để đầu trần, hông đeo gươm, tay khẽ phẩy phẩy chiếc khăn tay.
Milady lờ mờ nhận ra bóng dáng quen thuộc trong bóng tối; ả chống một tay lên tay vịn ghế, rướn người về phía trước như để xác nhận điều mình đang hồ nghi.
Người lạ mặt chậm rãi bước tới. Ngay khi ông ta lọt vào vùng ánh sáng của chiếc đèn lồng, Milady bất giác lùi lại.
Đến khi không còn chút nghi ngờ nào nữa, ả thảng thốt kêu lên: "Trời ơi, anh, là anh sao?"
"Đúng vậy, phu nhân xinh đẹp!" Huân tước de Winter đáp, cúi người chào bằng một điệu bộ nửa lịch thiệp, nửa mỉa mai; "là tôi, chính tôi đây."
"Thế còn tòa lâu đài này?"
"Là của tôi."
"Căn phòng này?"
"Là của cô."
"Vậy em là tù nhân của anh sao?"
"Gần như là thế."
"Nhưng đây là một sự lạm quyền trắng trợn!"
"Đừng dùng những lời đao to búa lớn! Chúng ta hãy ngồi xuống và trò chuyện nhẹ nhàng, như những người anh em một nhà."
Sau đó, ông quay ra cửa, thấy viên sĩ quan trẻ đang chờ đợi những mệnh lệnh cuối cùng liền cất tiếng: "Mọi chuyện ổn cả, tôi cảm ơn cậu; bây giờ hãy để chúng tôi được riêng tư, Felton."
-
Nhân vật trong Kinh Cựu Ước. Theo truyền thuyết, Judith là một góa phụ xinh đẹp đã đột nhập vào doanh trại địch, dùng nhan sắc quyến rũ và chuốc say vị tướng Holofernes của quân Assyria rồi chặt đầu ông ta để cứu dân tộc mình. Việc Milady tự so sánh với Judith ngầm ám chỉ kế hoạch thâm độc nhằm ám sát công tước Buckingham. ↩
-
Portsmouth là thành phố cảng ở tận cùng miền Nam, còn Manchester là thành phố ở miền Bắc nước Anh. Cụm từ này mang ý nghĩa bao quát toàn bộ lãnh thổ nước Anh từ Nam chí Bắc, ngụ ý giọng nói của Milady quá thanh thoát và không hề mang âm sắc bản địa của bất kỳ vùng miền nào tại Anh. ↩
Chapter XLIX. FATALITY
Meantime Milady, drunk with passion, roaring on the deck like a lioness that has been embarked, had been tempted to throw herself into the sea that she might regain the coast, for she could not get rid of the thought that she had been insulted by D’Artagnan, threatened by Athos, and that she had quit France without being revenged on them. This idea soon became so insupportable to her that at the risk of whatever terrible consequences might result to herself from it, she implored the captain to put her on shore; but the captain, eager to escape from his false position-placed between French and English cruisers, like the bat between the mice and the birds-was in great haste to regain England, and positively refused to obey what he took for a woman’s caprice, promising his passenger, who had been particularly recommended to him by the cardinal, to land her, if the sea and the French permitted him, at one of the ports of Brittany, either at Lorient or Brest. But the wind was contrary, the sea bad; they tacked and kept offshore. Nine days after leaving the Charente, pale with fatigue and vexation, Milady saw only the blue coasts of Finisterre appear.
She calculated that to cross this corner of France and return to the cardinal it would take her at least three days. Add another day for landing, and that would make four. Add these four to the nine others, that would be thirteen days lost-thirteen days, during which so many important events might pass in London. She reflected likewise that the cardinal would be furious at her return, and consequently would be more disposed to listen to the complaints brought against her than to the accusations she brought against others.
She allowed the vessel to pass Lorient and Brest without repeating her request to the captain, who, on his part, took care not to remind her of it. Milady therefore continued her voyage, and on the very day that Planchet embarked at Portsmouth for France, the messenger of his Eminence entered the port in triumph.
All the city was agitated by an extraordinary movement. Four large vessels, recently built, had just been launched. At the end of the jetty, his clothes richly laced with gold, glittering, as was customary with him, with diamonds and precious stones, his hat ornamented with a white feather which drooped upon his shoulder, Buckingham was seen surrounded by a staff almost as brilliant as himself.
It was one of those rare and beautiful days in winter when England remembers that there is a sun. The star of day, pale but nevertheless still splendid, was setting in the horizon, glorifying at once the heavens and the sea with bands of fire, and casting upon the towers and the old houses of the city a last ray of gold which made the windows sparkle like the reflection of a conflagration. Breathing that sea breeze, so much more invigorating and balsamic as the land is approached, contemplating all the power of those preparations she was commissioned to destroy, all the power of that army which she was to combat alone-she, a woman with a few bags of gold-Milady compared herself mentally to Judith, the terrible Jewess, when she penetrated the camp of the Assyrians and beheld the enormous mass of chariots, horses, men, and arms, which a gesture of her hand was to dissipate like a cloud of smoke.
They entered the roadstead; but as they drew near in order to cast anchor, a little cutter, looking like a coastguard formidably armed, approached the merchant vessel and dropped into the sea a boat which directed its course to the ladder. This boat contained an officer, a mate, and eight rowers. The officer alone went on board, where he was received with all the deference inspired by the uniform.
The officer conversed a few instants with the captain, gave him several papers, of which he was the bearer, to read, and upon the order of the merchant captain the whole crew of the vessel, both passengers and sailors, were called upon deck.
When this species of summons was made the officer inquired aloud the point of the brig’s departure, its route, its landings; and to all these questions the captain replied without difficulty and without hesitation. Then the officer began to pass in review all the people, one after the other, and stopping when he came to Milady, surveyed her very closely, but without addressing a single word to her.
He then returned to the captain, said a few words to him, and as if from that moment the vessel was under his command, he ordered a maneuver which the crew executed immediately. Then the vessel resumed its course, still escorted by the little cutter, which sailed side by side with it, menacing it with the mouths of its six cannon. The boat followed in the wake of the ship, a speck near the enormous mass.
During the examination of Milady by the officer, as may well be imagined, Milady on her part was not less scrutinizing in her glances. But however great was the power of this woman with eyes of flame in reading the hearts of those whose secrets she wished to divine, she met this time with a countenance of such impassivity that no discovery followed her investigation. The officer who had stopped in front of her and studied her with so much care might have been twenty-five or twenty-six years of age. He was of pale complexion, with clear blue eyes, rather deeply set; his mouth, fine and well cut, remained motionless in its correct lines; his chin, strongly marked, denoted that strength of will which in the ordinary Britannic type denotes mostly nothing but obstinacy; a brow a little receding, as is proper for poets, enthusiasts, and soldiers, was scarcely shaded by short thin hair which, like the beard which covered the lower part of his face, was of a beautiful deep chestnut color.
When they entered the port, it was already night. The fog increased the darkness, and formed round the sternlights and lanterns of the jetty a circle like that which surrounds the moon when the weather threatens to become rainy. The air they breathed was heavy, damp, and cold.
Milady, that woman so courageous and firm, shivered in spite of herself.
The officer desired to have Milady’s packages pointed out to him, and ordered them to be placed in the boat. When this operation was complete, he invited her to descend by offering her his hand.
Milady looked at this man, and hesitated. “Who are you, sir,” asked she, “who has the kindness to trouble yourself so particularly on my account?”
“You may perceive, madame, by my uniform, that I am an officer in the English navy,” replied the young man.
“But is it the custom for the officers in the English navy to place themselves at the service of their female compatriots when they land in a port of Great Britain, and carry their gallantry so far as to conduct them ashore?”
“Yes, madame, it is the custom, not from gallantry but prudence, that in time of war foreigners should be conducted to particular hôtels, in order that they may remain under the eye of the government until full information can be obtained about them.”
These words were pronounced with the most exact politeness and the most perfect calmness. Nevertheless, they had not the power of convincing Milady.
“But I am not a foreigner, sir,” said she, with an accent as pure as ever was heard between Portsmouth and Manchester; “my name is Lady Clarik, and this measure-”
“This measure is general, madame; and you will seek in vain to evade it.”
“I will follow you, then, sir.”
Accepting the hand of the officer, she began the descent of the ladder, at the foot of which the boat waited. The officer followed her. A large cloak was spread at the stern; the officer requested her to sit down upon this cloak, and placed himself beside her.
“Row!” said he to the sailors.
The eight oars fell at once into the sea, making but a single sound, giving but a single stroke, and the boat seemed to fly over the surface of the water.
In five minutes they gained the land.
The officer leaped to the pier, and offered his hand to Milady. A carriage was in waiting.
“Is this carriage for us?” asked Milady.
“Yes, madame,” replied the officer.
“The hôtel, then, is far away?”
“At the other end of the town.”
“Very well,” said Milady; and she resolutely entered the carriage.
The officer saw that the baggage was fastened carefully behind the carriage; and this operation ended, he took his place beside Milady, and shut the door.
Immediately, without any order being given or his place of destination indicated, the coachman set off at a rapid pace, and plunged into the streets of the city.
So strange a reception naturally gave Milady ample matter for reflection; so seeing that the young officer did not seem at all disposed for conversation, she reclined in her corner of the carriage, and one after the other passed in review all the surmises which presented themselves to her mind.
At the end of a quarter of an hour, however, surprised at the length of the journey, she leaned forward toward the door to see whither she was being conducted. Houses were no longer to be seen; trees appeared in the darkness like great black phantoms chasing one another. Milady shuddered.
“But we are no longer in the city, sir,” said she.
The young officer preserved silence.
“I beg you to understand, sir, I will go no farther unless you tell me whither you are taking me.”
This threat brought no reply.
“Oh, this is too much,” cried Milady. “Help! help!”
No voice replied to hers; the carriage continued to roll on with rapidity; the officer seemed a statue.
Milady looked at the officer with one of those terrible expressions peculiar to her countenance, and which so rarely failed of their effect; anger made her eyes flash in the darkness.
The young man remained immovable.
Milady tried to open the door in order to throw herself out.
“Take care, madame,” said the young man, coolly, “you will kill yourself in jumping.”
Milady reseated herself, foaming. The officer leaned forward, looked at her in his turn, and appeared surprised to see that face, just before so beautiful, distorted with passion and almost hideous. The artful creature at once comprehended that she was injuring herself by allowing him thus to read her soul; she collected her features, and in a complaining voice said: “In the name of heaven, sir, tell me if it is to you, if it is to your government, if it is to an enemy I am to attribute the violence that is done me?”
“No violence will be offered to you, madame, and what happens to you is the result of a very simple measure which we are obliged to adopt with all who land in England.”
“Then you don’t know me, sir?”
“It is the first time I have had the honor of seeing you.”
“And on your honor, you have no cause of hatred against me?”
“None, I swear to you.”
There was so much serenity, coolness, mildness even, in the voice of the young man, that Milady felt reassured.
At length after a journey of nearly an hour, the carriage stopped before an iron gate, which closed an avenue leading to a castle severe in form, massive, and isolated. Then, as the wheels rolled over a fine gravel, Milady could hear a vast roaring, which she at once recognized as the noise of the sea dashing against some steep cliff.
The carriage passed under two arched gateways, and at length stopped in a court large, dark, and square. Almost immediately the door of the carriage was opened, the young man sprang lightly out and presented his hand to Milady, who leaned upon it, and in her turn alighted with tolerable calmness.
“Still, then, I am a prisoner,” said Milady, looking around her, and bringing back her eyes with a most gracious smile to the young officer; “but I feel assured it will not be for long,” added she. “My own conscience and your politeness, sir, are the guarantees of that.”
However flattering this compliment, the officer made no reply; but drawing from his belt a little silver whistle, such as boatswains use in ships of war, he whistled three times, with three different modulations. Immediately several men appeared, who unharnessed the smoking horses, and put the carriage into a coach house.
Then the officer, with the same calm politeness, invited his prisoner to enter the house. She, with a still-smiling countenance, took his arm, and passed with him under a low arched door, which by a vaulted passage, lighted only at the farther end, led to a stone staircase around an angle of stone. They then came to a massive door, which after the introduction into the lock of a key which the young man carried with him, turned heavily upon its hinges, and disclosed the chamber destined for Milady.
With a single glance the prisoner took in the apartment in its minutest details. It was a chamber whose furniture was at once appropriate for a prisoner or a free man; and yet bars at the windows and outside bolts at the door decided the question in favor of the prison.
In an instant all the strength of mind of this creature, though drawn from the most vigorous sources, abandoned her; she sank into a large easy chair, with her arms crossed, her head lowered, and expecting every instant to see a judge enter to interrogate her.
But no one entered except two or three marines, who brought her trunks and packages, deposited them in a corner, and retired without speaking.
The officer superintended all these details with the same calmness Milady had constantly seen in him, never pronouncing a word himself, and making himself obeyed by a gesture of his hand or a sound of his whistle.
It might have been said that between this man and his inferiors spoken language did not exist, or had become useless.
At length Milady could hold out no longer; she broke the silence. “In the name of heaven, sir,” cried she, “what means all that is passing? Put an end to my doubts; I have courage enough for any danger I can foresee, for every misfortune which I understand. Where am I, and why am I here? If I am free, why these bars and these doors? If I am a prisoner, what crime have I committed?”
“You are here in the apartment destined for you, madame. I received orders to go and take charge of you on the sea, and to conduct you to this castle. This order I believe I have accomplished with all the exactness of a soldier, but also with the courtesy of a gentleman. There terminates, at least to the present moment, the duty I had to fulfill toward you; the rest concerns another person.”
“And who is that other person?” asked Milady, warmly. “Can you not tell me his name?”
At the moment a great jingling of spurs was heard on the stairs. Some voices passed and faded away, and the sound of a single footstep approached the door.
“That person is here, madame,” said the officer, leaving the entrance open, and drawing himself up in an attitude of respect.
At the same time the door opened; a man appeared on the threshold. He was without a hat, carried a sword, and flourished a handkerchief in his hand.
Milady thought she recognized this shadow in the gloom; she supported herself with one hand upon the arm of the chair, and advanced her head as if to meet a certainty.
The stranger advanced slowly, and as he advanced, after entering into the circle of light projected by the lamp, Milady involuntarily drew back.
Then when she had no longer any doubt, she cried, in a state of stupor, “What, my brother, is it you?”
“Yes, fair lady!” replied Lord de Winter, making a bow, half courteous, half ironical; “it is I, myself.”
“But this castle, then?”
“Is mine.”
“This chamber?”
“Is yours.”
“I am, then, your prisoner?”
“Nearly so.”
“But this is a frightful abuse of power!”
“No high-sounding words! Let us sit down and chat quietly, as brother and sister ought to do.”
Then, turning toward the door, and seeing that the young officer was waiting for his last orders, he said. “All is well, I thank you; now leave us alone, Mr. Felton.”