Chương XLV: CẢNH PHU THÊ
Đúng như Athos đã dự tính, chẳng bao lâu sau, Hồng y nhẹ bước đi xuống. Ngài đẩy cửa bước vào căn phòng nơi các chàng Ngự lâm đang tá túc, bắt gặp Porthos đang say sưa đổ xúc xắc cùng Aramis. Ngài đưa mắt lướt nhanh quanh phòng, lập tức nhận ra sự vắng mặt của một người.
"Sĩ quan Athos đâu rồi?" ngài cất giọng hỏi.
"Thưa Đức ông," Porthos cung kính đáp lời, "anh ấy đã đi dò đường rồi, vì mấy câu nói ban nãy của lão chủ quán khiến anh ấy lo rằng đoạn đường phía trước chẳng được an toàn."
"Thế còn anh, nãy giờ anh làm gì, ngài Porthos?"
"Tôi vừa thắng Aramis năm đồng pistole."
"Tốt lắm; vậy bây giờ các anh sẽ quay về cùng ta chứ?"
"Chúng tôi xin tuân lệnh Đức ông."
"Vậy thì lên ngựa đi thôi, các quý ngài; vì trời cũng đã muộn lắm rồi."
Người hầu cận đang túc trực bên ngoài cánh cửa, tay giữ chặt cương ngựa chờ đợi Hồng y. Phía xa xa cách đó một quãng, bóng dáng hai người đàn ông và ba con ngựa lờ mờ hiện ra giữa màn đêm tăm tối. Đó là hai kẻ được giao nhiệm vụ áp giải Milady đến tận pháo đài La Pointe1 để canh chừng ả bước lên tàu.
Người hầu cận xác nhận lại với Hồng y những gì hai chàng Ngự lâm quân vừa bẩm báo về hành tung của Athos. Hồng y khẽ gật đầu, tỏ vẻ hài lòng, rồi quay gót trở lại con đường cũ với sự cẩn trọng y hệt như lúc ngài mới đặt chân đến.
Hãy để ngài tiếp tục cuộc hành trình quay về doanh trại dưới sự hộ tống của gã cận vệ và hai chàng Ngự lâm, chúng ta hãy cùng quay trở lại với Athos.
Trong suốt chừng một trăm bước đầu tiên, anh vẫn giữ nguyên nhịp độ phi ngựa như lúc mới xuất phát; nhưng ngay khi vừa khuất tầm mắt, anh liền bẻ ngoặt tay cương sang phải, đi thành một vòng cung rồi dừng lại, nấp sau hàng rào cao cách đường cái độ hai mươi bước chân để lặng lẽ quan sát nhóm người đi lướt qua. Nhận ra những chiếc mũ điểm viền ren quen thuộc của đồng đội, cùng với dải tua rua ánh vàng rủ xuống từ chiếc áo choàng của Hồng y, anh kiên nhẫn đứng đợi cho đến khi cả đoàn người khuất hẳn bóng sau khúc quanh. Lúc họ đã đi thật xa, anh mới thúc ngựa phi nước đại lao vút về phía quán trọ, nơi cánh cửa lớn mở toang đón anh vào trong mà chẳng gặp chút trở ngại nào.
Lão chủ quán nhận ra anh ngay tức khắc.
"Sĩ quan chỉ huy của tôi," Athos cất tiếng, "đã quên dặn một tin tức vô cùng trọng yếu với phu nhân, nên ngài ấy cử tôi quay lại để bù đắp cho sự đãng trí đó."
"Mời ngài cứ lên," lão chủ quán mau mắn đáp; "bà ấy vẫn còn ở trong phòng đấy."
Athos lợi dụng sự ưng thuận ấy, cất bước lên cầu thang. Anh rón rén tiến tới chiếu nghỉ, hé mắt qua cánh cửa mở hờ và thấy Milady đang đội chiếc mũ lên đầu.
Anh lẳng lặng bước vào phòng, khép cửa lại. Tiếng then cài lách cách vang lên khiến Milady giật thót mình ngoái lại nhìn.
Athos đứng sừng sững trước cửa. Tấm áo choàng trùm kín người anh, còn vành mũ kéo sụp xuống che khuất cả đôi mắt. Trước bóng dáng câm lặng và bất động tựa một pho tượng ấy, Milady bất giác rùng mình kinh hãi.
"Ngươi là ai? Ngươi muốn gì?" ả cất tiếng thét.
"Hừm," Athos lẩm bẩm, "chắc chắn là mụ rồi!"
Nói đoạn, anh buông thõng áo choàng, gạt chiếc mũ lên và lạnh lùng tiến về phía Milady.
"Mụ có biết tôi không, phu nhân?" anh cất lời.
Milady lùi lại một bước. Ả co rúm người, tưởng chừng như vừa giẫm phải một con rắn độc.
"Tốt lắm," Athos gật gù, "tôi nhận ra là mụ biết tôi."
"Bá tước de la Fère!" Milady thì thào. Gương mặt ả trắng bệch không còn hột máu. Ả cứ thế chùn bước lùi lại mãi, cho tới khi tấm lưng chạm phải bức tường lạnh ngắt.
"Phải, phu nhân," Athos đáp lời; "đích thân Bá tước de la Fère đây. Cất công trở về từ cõi chết để có vinh hạnh tới thăm mụ. Ngồi xuống đi, phu nhân. Nào, chúng ta hãy trò chuyện, đúng như lời Hồng y vừa căn dặn."
Bao trùm trong một nỗi khiếp đảm vô hình, Milady lặng lẽ ngồi xuống mà chẳng dám hé răng nửa lời.
"Mụ hẳn là một ác quỷ bị đày ải xuống thế gian này!" Athos nói. "Tôi biết mụ nắm trong tay quyền lực đáng gờm. Thế nhưng, mụ thừa hiểu rằng nhờ hồng ân của Chúa, con người vẫn thường đánh bại cả những loài ác quỷ hung hãn nhất. Mụ đã từng cản đường tôi một lần. Tôi những tưởng mình đã nghiền nát mụ rồi, phu nhân ạ. Nhưng hoặc là tôi nhầm, hoặc chính chốn địa ngục kia đã nôn mụ ra để hồi sinh mụ thêm một lần nữa!"
Nghe những lời gợi lại ký ức kinh hoàng ấy, Milady gục đầu xuống. Một tiếng rên rỉ nghẹn ngào bật ra từ cuống họng ả.
"Phải, địa ngục đã hồi sinh mụ," Athos tiếp lời. "Địa ngục đã nhào nặn để mụ trở nên giàu có, địa ngục đã ban cho mụ một cái tên khác, và dường như còn đắp lên cho mụ một dung nhan khác. Nhưng dẫu có thế nào, nó cũng chẳng thể gột rửa nổi những vết nhơ nhuốc trong tâm hồn mụ, cũng như cái dấu vĩnh viễn in hằn trên da thịt mụ kia."
Milady bật nảy người lên như bị lò xo bung trúng, ánh mắt ả phóng ra những tia nhìn sắc lẹm. Athos vẫn điềm nhiên ngồi bất động.
"Mụ từng tin rằng tôi đã chết, phải không? Giống như cái cách tôi cũng đinh ninh mụ đã bỏ mạng vậy. Còn cái tên Athos này, nó cũng làm rất tốt nhiệm vụ che đậy thân phận Bá tước de la Fère, chẳng kém cạnh gì cái tên Milady Clarik đang che giấu mụ Anne de Breuil cả. Đó chẳng phải là cái tên mà mụ đã mang, khi người anh trai đáng kính của mụ đứng ra cử hành hôn lễ cho chúng ta hay sao? Hoàn cảnh của chúng ta quả thật là trớ trêu," Athos bật một tiếng cười lạnh nhạt. "Chúng ta có thể kéo dài mạng sống đến tận ngày hôm nay, âu cũng chỉ vì đôi bên đều đinh ninh kẻ kia đã chết. Suy cho cùng, một ký ức thường bớt ngột ngạt hơn hẳn một sinh mệnh bằng xương bằng thịt, dẫu đôi khi, chính cái ký ức ấy cũng đủ sức nuốt chửng ta."
"Thế nhưng," Milady cất giọng khàn đặc, yếu ớt, "điều gì đã xui khiến ngài quay lại tìm tôi, và ngài muốn gì ở tôi?"
"Tôi muốn cho mụ sáng mắt ra rằng, dẫu tôi vẫn luôn vô hình trước mụ, nhưng chưa một phút giây nào tôi để mụ lọt khỏi tầm mắt của mình."
"Ngài biết tôi đã làm những gì ư?"
"Tôi có thể kể rành rọt từng ngày một, về những chuyện mụ đã nhúng tay vào, kể từ khi mụ bước chân vào phục vụ Hồng y cho đến tận tối hôm nay."
Một nụ cười ngờ vực thoáng hiện trên bờ môi nhợt nhạt của Milady.
"Nghe đây! Chính mụ là kẻ đã lén cắt hai viên kim cương trên vai Công tước Buckingham; chính mụ là kẻ đã bắt cóc phu nhân Bonacieux; chính mụ, vì khao khát De Wardes và muốn qua đêm với hắn, đã mở cửa đón D'Artagnan; cũng chính mụ, khi tưởng rằng De Wardes lừa gạt mình, đã rắp tâm mượn tay tình địch để sát hại gã; chính mụ, khi tên tình địch kia khám phá ra bí mật dơ dáy của mụ, đã xua hai gã sát thủ bám theo hòng hạ sát cậu ta; chính mụ, lúc nhận ra những viên đạn không đi trúng đích, đã gửi những chai rượu độc kèm theo một bức thư giả mạo, cốt để nạn nhân lầm tưởng đó là món quà từ bạn bè mình. Và tóm lại, cũng chính mụ, ngay tại căn phòng này, ngồi yên vị trên chiếc ghế mà tôi đang ngồi đây, vừa ngã giá với Hồng y Richelieu về việc ám sát Công tước Buckingham, đổi lại cái gật đầu để ngài ta cho phép mụ đoạt mạng D'Artagnan."
Khuôn mặt Milady cắt không còn một giọt máu.
"Ngài hẳn phải là quỷ Satan2!" ả thất thanh kêu lên.
"Có lẽ thế," Athos thản nhiên đáp lời. "Nhưng dù sao, hãy khắc cốt ghi tâm những lời này. Chuyện ám sát Công tước Buckingham, hay xúi giục kẻ khác lấy mạng ông ta-tôi chẳng mảy may bận tâm! Tôi không quen biết con người đó. Huống hồ, ông ta lại là người Anh. Nhưng, đừng hòng chạm vào dù chỉ một sợi tóc của D'Artagnan. Cậu ấy là một người bạn trung thành mà tôi trân quý và luôn bảo vệ. Bằng không, tôi xin thề dưới vong linh cha mình, rằng cái tội ác mà mụ định làm, hoặc sắp sửa làm, sẽ là tội ác cuối cùng trong cuộc đời mụ."
"D'Artagnan đã sỉ nhục tôi một cách tàn nhẫn," Milady buông những lời lạnh lẽo, vô hồn. "D'Artagnan phải chết!"
"Thế cơ à! Trái đất này còn có kẻ xúc phạm nổi mụ sao, phu nhân?" Athos cười khẩy. "Cậu ấy đã xúc phạm mụ, và cậu ấy phải chết ư!"
"Hắn phải chết!" Milady gằn từng chữ. "Con ả kia bỏ mạng trước, rồi sau đó mới đến lượt hắn."
Athos bỗng thấy choáng váng. Việc đối mặt với sinh vật tàn độc này, kẻ chẳng còn vương chút nữ tính nào, đã khơi dậy trong anh những ký ức kinh hoàng. Anh nhớ lại cái ngày mà giữa hoàn cảnh bớt phần hiểm nguy hơn lúc này, anh từng định hiến tế ả để bảo toàn danh dự của mình. Một cơn khát máu trào dâng dữ dội, thiêu đốt tâm trí và rần rật lan khắp cơ thể anh như một cơn sốt điên dại. Đứng bật dậy, anh thò tay vào thắt lưng, rút phắt khẩu súng lục và lạnh lùng lên nòng.
Milady, mặt mày xám ngoét như một cái xác, cố há miệng kêu cứu; thế nhưng, cái lưỡi sưng tấy của ả chỉ có thể bật ra những âm thanh khò khè ứ nghẹn, nghe chẳng có chút gì giống tiếng người mà y hệt tiếng rống man dại của một con thú hoang. Bất động trên tấm thảm sẫm màu với mái tóc rũ rượi rối bời, ả hiện lên đầy vẻ kinh dị.
Athos chầm chậm giơ súng lên. Cánh tay anh vươn ra, gí sát nòng súng lạnh lẽo đến mức gần như chạm hẳn vào trán Milady. Rồi, với một chất giọng càng trở nên đáng sợ hơn bởi sự điềm tĩnh chết người của kẻ đã hạ quyết tâm, anh gằn từng chữ: "Phu nhân, mụ phải giao ngay cho tôi tờ giấy có chữ ký của Hồng y; bằng không, có Chúa chứng giám, tôi sẽ bắn nát sọ mụ."
Nếu đối diện là một người đàn ông khác, có lẽ Milady còn đôi chút bán tín bán nghi; nhưng ả lại quá hiểu Athos. Dẫu vậy, ả vẫn trân trân bất động.
"Mụ có đúng một giây để quyết định," anh lên tiếng.
Nhìn thấy cơ mặt anh khẽ giật giật, dấu hiệu cho thấy ngón tay kia chuẩn bị siết cò, Milady luống cuống thò tay vào ngực áo, rút ra một tờ giấy rồi run rẩy giơ về phía Athos.
"Cầm lấy đi," ả rít lên, "và hãy bị nguyền rủa đi!"
Athos thản nhiên nhận lấy tờ giấy, giắt súng lại vào thắt lưng. Anh bước tới gần ngọn đèn để chắc chắn đó đúng là thứ mình cần, rồi mở ra đọc:
"Ngày 3 tháng 12 năm 1627
"Chính theo lệnh của ta và vì lợi ích của quốc gia mà người mang giấy này đã thực hiện những việc cần phải làm.
"RICHELIEU"
"Và bây giờ," Athos buông lời, thản nhiên khoác lại áo choàng và đội mũ lên, "bây giờ tôi đã bẻ gãy nanh của mụ rồi. Cứ cắn đi, loài rắn độc, nếu như mụ có thể."
Anh dứt khoát bước khỏi căn phòng, chẳng mảy may ngoái đầu nhìn lại.
Nơi bậu cửa, anh bắt gặp hai gã lính gác đang đứng chờ cùng con ngựa dự bị.
"Các anh này," anh dõng dạc lên tiếng, "như các anh đã tường tận, lệnh của Đức ông là phải tức tốc áp giải người đàn bà kia đến Pháo đài La Pointe, và tuyệt đối không được lơi mắt khỏi ả cho đến khi ả đã yên vị trên tàu."
Những lời răn đe ấy hoàn toàn ăn khớp với mật lệnh đã nhận, hai gã lính liền ngoan ngoãn cúi đầu vâng mệnh.
Về phần Athos, anh thoắt cái đã nhảy lên yên, quất ngựa phi nước đại. Nhưng thay vì bám theo đường mòn, anh cắt ngang qua những cánh đồng hoang, thúc chiến mã lao đi với tốc lực kinh hồn, thi thoảng mới kìm cương nín thở lắng nghe động tĩnh.
Trong một lần dừng chân như thế, tiếng vó ngựa dồn dập rền vang mặt đường đã vọng vào tai anh. Chắc mẩm đó là Hồng y cùng đoàn tùy tùng, anh lập tức chọn một điểm phục kích mới, vội vã xát lá bụi cây lên khắp mình ngựa để ngụy trang, rồi ung dung chặn ngang lối đi, cách doanh trại chừng hai trăm bước chân.
"Kẻ nào đó?" anh dõng dạc hô vang, ngay khi bóng dáng những người cưỡi ngựa vừa lọt vào tầm mắt.
"Ta đoán không lầm thì đó là chàng Ngự lâm quân dũng cảm của chúng ta," Hồng y cất giọng.
"Bẩm vâng, thưa Đức ông," Porthos đáp lời, "chính là anh ấy."
"Ngài Athos," Richelieu lên tiếng, "xin nhận lời cảm tạ của ta vì sự canh gác cẩn mật này. Thưa các quý ngài, chúng ta đã đến nơi; hãy đi qua cổng bên trái. Khẩu lệnh là 'Nhà vua và Ré3'."
Dứt lời, Hồng y khẽ gật đầu chào ba người bạn rồi rẽ sang bên phải, đám tùy tùng lục tục bám theo sau-bởi đêm nay ngài sẽ nghỉ lại trong doanh trại.
"Sao rồi!" Porthos và Aramis đồng thanh cất tiếng ngay khi bóng Hồng y vừa khuất dạng, "thế là, ngài ấy đã ký tờ giấy mụ ta cần rồi ư!"
"Tôi biết," Athos lạnh lùng đáp gọn, "vì nó đang nằm ở đây."
Kể từ phút đó, ba người bạn lặng thinh không trao đổi thêm nửa lời cho đến lúc bước chân vào khu trại, ngoại trừ việc hô khẩu lệnh cho lính gác. Họ chỉ sai Mousqueton đi báo cho Planchet biết rằng, ngay khi rời khỏi chiến hào, chủ nhân của cậu phải lập tức đến doanh trại của đội Ngự lâm quân.
Về phần Milady, đúng như những gì Athos đã liệu tính, khi nhìn thấy hai gã lính gác chực chờ sẵn, ả chẳng hề gây khó dễ mà ngoan ngoãn đi theo. Đã có một thoáng, ả định quay ngoắt lại tìm Hồng y để trút hết mọi chuyện bực dọc; nhưng nếu ả bép xép, Athos cũng sẽ lôi tuột mọi bí mật ra ánh sáng. Ả có thể tố cáo rằng Athos đã treo cổ ả; nhưng rồi Athos sẽ lật tẩy vết thích chữ ô nhục trên vai ả. Nghĩ đi nghĩ lại, ả cho rằng tốt nhất cứ nên ngậm bồ hòn làm ngọt, lặng lẽ lên đường dùng bản lĩnh thủ đoạn của mình để hoàn thành trót lọt nhiệm vụ gian truân này; rồi sau đó, một khi ván cờ đã ngã ngũ theo đúng ý muốn của Hồng y, ả sẽ đàng hoàng đến gặp ngài và đòi lại quyền báo thù.
Bởi thế, sau một đêm ròng rã cuốc bộ mệt nhoài, đúng bảy giờ sáng ả đã đặt chân đến pháo đài Point; tám giờ ả đã yên vị trên tàu; và khi đồng hồ điểm chín giờ, con tàu-danh nghĩa là đang hướng thẳng tới Bayonne4 nhờ tấm giấy thông hành của Hồng y-đã nhổ neo, rẽ sóng nhắm thẳng bến bờ nước Anh.
-
Một mũi đất và đồn điền ven biển gần khu vực La Rochelle, được sử dụng làm nơi neo đậu phụ cho tàu thuyền. ↩
-
Theo tín ngưỡng Kitô giáo, Satan là chúa tể của các loài ác quỷ dưới địa ngục, đại diện cho mọi điều tà ác và dối trá. ↩
-
Khẩu lệnh nhắc đến Vua Louis XIII và Đảo Ré (Île de Ré), một hòn đảo có vị trí chiến lược ngoài khơi La Rochelle mà quân Pháp đang nỗ lực phòng thủ trước quân Anh. ↩
-
Một thành phố cảng sầm uất nằm ở miền Tây Nam nước Pháp, ngay sát biên giới với Tây Ban Nha. ↩
Chapter XLV. A CONJUGAL SCENE
As Athos had foreseen, it was not long before the cardinal came down. He opened the door of the room in which the Musketeers were, and found Porthos playing an earnest game of dice with Aramis. He cast a rapid glance around the room, and perceived that one of his men was missing.
“What has become of Monseigneur Athos?” asked he.
“Monseigneur,” replied Porthos, “he has gone as a scout, on account of some words of our host, which made him believe the road was not safe.”
“And you, what have you done, Monsieur Porthos?”
“I have won five pistoles of Aramis.”
“Well; now will you return with me?”
“We are at your Eminence’s orders.”
“To horse, then, gentlemen; for it is getting late.”
The attendant was at the door, holding the cardinal’s horse by the bridle. At a short distance a group of two men and three horses appeared in the shade. These were the two men who were to conduct Milady to Fort La Pointe, and superintend her embarkation.
The attendant confirmed to the cardinal what the two Musketeers had already said with respect to Athos. The cardinal made an approving gesture, and retraced his route with the same precautions he had used in coming.
Let us leave him to follow the road to the camp protected by his esquire and the two Musketeers, and return to Athos.
For a hundred paces he maintained the speed at which he started; but when out of sight he turned his horse to the right, made a circuit, and came back within twenty paces of a high hedge to watch the passage of the little troop. Having recognized the laced hats of his companions and the golden fringe of the cardinal’s cloak, he waited till the horsemen had turned the angle of the road, and having lost sight of them, he returned at a gallop to the inn, which was opened to him without hesitation.
The host recognized him.
“My officer,” said Athos, “has forgotten to give a piece of very important information to the lady, and has sent me back to repair his forgetfulness.”
“Go up,” said the host; “she is still in her chamber.”
Athos availed himself of the permission, ascended the stairs with his lightest step, gained the landing, and through the open door perceived Milady putting on her hat.
He entered the chamber and closed the door behind him. At the noise he made in pushing the bolt, Milady turned round.
Athos was standing before the door, enveloped in his cloak, with his hat pulled down over his eyes. On seeing this figure, mute and immovable as a statue, Milady was frightened.
“Who are you, and what do you want?” cried she.
“Humph,” murmured Athos, “it is certainly she!”
And letting fall his cloak and raising his hat, he advanced toward Milady.
“Do you know me, madame?” said he.
Milady made one step forward, and then drew back as if she had seen a serpent.
“So far, well,” said Athos, “I perceive you know me.”
“The Comte de la Fère!” murmured Milady, becoming exceedingly pale, and drawing back till the wall prevented her from going any farther.
“Yes, Milady,” replied Athos; “the Comte de la Fère in person, who comes expressly from the other world to have the pleasure of paying you a visit. Sit down, madame, and let us talk, as the cardinal said.”
Milady, under the influence of inexpressible terror, sat down without uttering a word.
“You certainly are a demon sent upon the earth!” said Athos. “Your power is great, I know; but you also know that with the help of God men have often conquered the most terrible demons. You have once before thrown yourself in my path. I thought I had crushed you, madame; but either I was deceived or hell has resuscitated you!”
Milady at these words, which recalled frightful remembrances, hung down her head with a suppressed groan.
“Yes, hell has resuscitated you,” continued Athos. “Hell has made you rich, hell has given you another name, hell has almost made you another face; but it has neither effaced the stains from your soul nor the brand from your body.”
Milady arose as if moved by a powerful spring, and her eyes flashed lightning. Athos remained sitting.
“You believed me to be dead, did you not, as I believed you to be? And the name of Athos as well concealed the Comte de la Fère, as the name Milady Clarik concealed Anne de Breuil. Was it not so you were called when your honored brother married us? Our position is truly a strange one,” continued Athos, laughing. “We have only lived up to the present time because we believed each other dead, and because a remembrance is less oppressive than a living creature, though a remembrance is sometimes devouring.”
“But,” said Milady, in a hollow, faint voice, “what brings you back to me, and what do you want with me?”
“I wish to tell you that though remaining invisible to your eyes, I have not lost sight of you.”
“You know what I have done?”
“I can relate to you, day by day, your actions from your entrance to the service of the cardinal to this evening.”
A smile of incredulity passed over the pale lips of Milady.
“Listen! It was you who cut off the two diamond studs from the shoulder of the Duke of Buckingham; it was you who had Madame Bonacieux carried off; it was you who, in love with De Wardes and thinking to pass the night with him, opened the door to Monsieur d’Artagnan; it was you who, believing that De Wardes had deceived you, wished to have him killed by his rival; it was you who, when this rival had discovered your infamous secret, wished to have him killed in his turn by two assassins, whom you sent in pursuit of him; it was you who, finding the balls had missed their mark, sent poisoned wine with a forged letter, to make your victim believe that the wine came from his friends. In short, it was you who have but now in this chamber, seated in this chair I now fill, made an engagement with Cardinal Richelieu to cause the Duke of Buckingham to be assassinated, in exchange for the promise he has made you to allow you to assassinate D’Artagnan.”
Milady was livid.
“You must be Satan!” cried she.
“Perhaps,” said Athos; “But at all events listen well to this. Assassinate the Duke of Buckingham, or cause him to be assassinated-I care very little about that! I don’t know him. Besides, he is an Englishman. But do not touch with the tip of your finger a single hair of D’Artagnan, who is a faithful friend whom I love and defend, or I swear to you by the head of my father the crime which you shall have endeavored to commit, or shall have committed, shall be the last.”
“Monsieur d’Artagnan has cruelly insulted me,” said Milady, in a hollow tone; “Monsieur d’Artagnan shall die!”
“Indeed! Is it possible to insult you, madame?” said Athos, laughing; “he has insulted you, and he shall die!”
“He shall die!” replied Milady; “she first, and he afterward.”
Athos was seized with a kind of vertigo. The sight of this creature, who had nothing of the woman about her, recalled awful remembrances. He thought how one day, in a less dangerous situation than the one in which he was now placed, he had already endeavored to sacrifice her to his honor. His desire for blood returned, burning his brain and pervading his frame like a raging fever; he arose in his turn, reached his hand to his belt, drew forth a pistol, and cocked it.
Milady, pale as a corpse, endeavored to cry out; but her swollen tongue could utter no more than a hoarse sound which had nothing human in it and resembled the rattle of a wild beast. Motionless against the dark tapestry, with her hair in disorder, she appeared like a horrid image of terror.
Athos slowly raised his pistol, stretched out his arm so that the weapon almost touched Milady’s forehead, and then, in a voice the more terrible from having the supreme calmness of a fixed resolution, “Madame,” said he, “you will this instant deliver to me the paper the cardinal signed; or upon my soul, I will blow your brains out.”
With another man, Milady might have preserved some doubt; but she knew Athos. Nevertheless, she remained motionless.
“You have one second to decide,” said he.
Milady saw by the contraction of his countenance that the trigger was about to be pulled; she reached her hand quickly to her bosom, drew out a paper, and held it toward Athos.
“Take it,” said she, “and be accursed!”
Athos took the paper, returned the pistol to his belt, approached the lamp to be assured that it was the paper, unfolded it, and read:
“Dec. 3, 1627
“It is by my order and for the good of the state that the bearer of this has done what he has done.
“RICHELIEU”
“And now,” said Athos, resuming his cloak and putting on his hat, “now that I have drawn your teeth, viper, bite if you can.”
And he left the chamber without once looking behind him.
At the door he found the two men and the spare horse which they held.
“Gentlemen,” said he, “Monseigneur’s order is, you know, to conduct that woman, without losing time, to Fort La Pointe, and never to leave her till she is on board.”
As these words agreed wholly with the order they had received, they bowed their heads in sign of assent.
With regard to Athos, he leaped lightly into the saddle and set out at full gallop; only instead of following the road, he went across the fields, urging his horse to the utmost and stopping occasionally to listen.
In one of those halts he heard the steps of several horses on the road. He had no doubt it was the cardinal and his escort. He immediately made a new point in advance, rubbed his horse down with some heath and leaves of trees, and placed himself across the road, about two hundred paces from the camp.
“Who goes there?” cried he, as soon as he perceived the horsemen.
“That is our brave Musketeer, I think,” said the cardinal.
“Yes, monseigneur,” said Porthos, “it is he.”
“Monsieur Athos,” said Richelieu, “receive my thanks for the good guard you have kept. Gentlemen, we are arrived; take the gate on the left. The watchword is, ‘King and Ré.’”
Saying these words, the cardinal saluted the three friends with an inclination of his head, and took the right hand, followed by his attendant-for that night he himself slept in the camp.
“Well!” said Porthos and Aramis together, as soon as the cardinal was out of hearing, “well, he signed the paper she required!”
“I know it,” said Athos, coolly, “since here it is.”
And the three friends did not exchange another word till they reached their quarters, except to give the watchword to the sentinels. Only they sent Mousqueton to tell Planchet that his master was requested, the instant that he left the trenches, to come to the quarters of the Musketeers.
Milady, as Athos had foreseen, on finding the two men that awaited her, made no difficulty in following them. She had had for an instant an inclination to be reconducted to the cardinal, and relate everything to him; but a revelation on her part would bring about a revelation on the part of Athos. She might say that Athos had hanged her; but then Athos would tell that she was branded. She thought it was best to preserve silence, to discreetly set off to accomplish her difficult mission with her usual skill; and then, all things being accomplished to the satisfaction of the cardinal, to come to him and claim her vengeance.
In consequence, after having traveled all night, at seven o’clock she was at the fort of the Point; at eight o’clock she had embarked; and at nine, the vessel, which with letters of marque from the cardinal was supposed to be sailing for Bayonne, raised anchor, and steered its course toward England.