Chương XXVI. ARAMIS VÀ LUẬN VĂN CỦA ANH

D'Artagnan tuyệt nhiên không hé răng nửa lời với Porthos về vết thương của bạn mình hay về cô vợ của ngài ủy viên công tố. Chàng thanh niên gốc Béarn của chúng ta vốn dĩ là một người vô cùng cẩn trọng dù tuổi đời còn rất trẻ. Thế nên, chàng vờ như tin mọi lời khoác lác của gã ngự lâm quân kia, bởi chàng đinh ninh rằng chẳng có tình bạn nào trụ vững nổi một khi bí mật bị phơi bày. Thêm vào đó, con người ta luôn cảm thấy bản thân có đôi chút ưu thế khi nắm rõ cuộc đời của kẻ khác hơn là bọn họ tưởng. Mang trong lòng bao toan tính lớn lao cho tương lai, và đã quyết tâm nhào nặn ba người bạn thành những công cụ đắc lực cho tiền đồ của mình, D'Artagnan chẳng chút phiền lòng khi nắm sẵn trong tay những sợi dây vô hình để ngấm ngầm thao túng họ.

Và rồi, khi tiếp tục chặng đường, một nỗi sầu muộn sâu thẳm bỗng đè nặng lên trái tim chàng. Chàng chạnh lòng nhớ đến phu nhân Bonacieux trẻ trung và kiều diễm, người đáng lẽ đã trao cho chàng phần thưởng ngọt ngào cho những nỗ lực quên mình. Nhưng cũng phải nói ngay rằng, nỗi buồn xâm lấn tâm hồn chàng thanh niên không hẳn vì tiếc nuối niềm hạnh phúc tuột khỏi tầm tay, mà phần nhiều là do nỗi phấp phỏng lo âu rằng một tai ương khủng khiếp nào đó đã giáng xuống đầu người phụ nữ đáng thương ấy. Về phần mình, chàng chẳng chút mảy may nghi ngờ việc nàng chính là nạn nhân trong cơn thịnh nộ báo thù của Giáo chủ; và như mọi người đều rõ, sự trả thù của Đức Hồng y khủng khiếp đến nhường nào. Chàng chẳng rõ làm thế nào mình lại nhận được sự khoan hồng từ ngài tể tướng, nhưng chắc chắn ngài de Cavois đã ngầm tiết lộ điều này nếu viên đội trưởng đội Cận vệ tìm thấy chàng ở nhà.

Chẳng có gì khiến thời gian vút qua hay rút ngắn một chặng đường kỳ diệu cho bằng một dòng suy tưởng chiếm trọn mọi tâm trí của lữ khách. Sự tồn tại của thế giới bên ngoài khi ấy tựa như một giấc ngủ vùi, mà bản thân dòng suy tưởng kia chính là cơn mộng mị. Dưới mị lực của nó, thời gian không còn thước đo, không gian xóa nhòa mọi khoảng cách. Ta khởi hành từ chốn này, và đặt chân đến chốn khác, chỉ đơn thuần là vậy. Về khoảng thời gian đã trôi qua, trong ký ức chẳng đọng lại gì ngoài một màn sương giăng mắc, nơi hàng ngàn hình bóng xáo trộn của cỏ cây, đồi núi và phong cảnh chìm khuất lấp. Chính trong trạng thái mơ màng phiêu lãng ấy, D'Artagnan đã buông cương cho con ngựa tùy ý rong ruổi, vượt qua sáu hay tám dặm đường ngăn cách Chantilly với Crèvecœur, để rồi khi đến làng, chàng chẳng thể nào nhớ nổi mảy may những thứ mình đã lướt qua hay bắt gặp trên đường.

Chỉ khi đặt chân đến nơi, ký ức mới quay về với chàng. Chàng khẽ lắc đầu, nhận ra quán trọ nơi mình từng để Aramis lại, rồi thúc ngựa phi nước kiệu, thoắt cái đã dừng cương trước cửa.

Lần này, ra đón chàng không phải là ông chủ mà là bà chủ quán. D'Artagnan vốn có con mắt tinh đời nhìn người. Chỉ liếc vội một cái, chàng đã thu trọn vào tầm mắt khuôn mặt bầu bĩnh, tươi tắn của bà chủ, và lập tức nhận ra chẳng có cớ gì phải giấu giếm, hay phải e ngại bất cứ điều gì từ một người đàn bà được trời phú cho nét mặt hân hoan đến thế.

"Bà chủ tốt bụng," D'Artagnan hỏi thăm, "bà có thể cho tôi biết tin tức về một người bạn của tôi, người mà chúng tôi đành phải để lại đây chừng mười ngày trước, giờ ra sao rồi không?"

"Một chàng thanh niên bảnh bao, trạc hăm ba hăm tư tuổi, hiền lành, nhã nhặn, và vóc dáng cân đối?"

"Chính là cậu ấy - bị thương ở vai."

"Vâng, đúng rồi. Ồ, thưa ngài, ngài ấy hiện vẫn còn ở đây."

"À, pardieu! Bà chủ quý mến của tôi," D'Artagnan reo lên, nhảy phắt xuống ngựa và quăng dây cương cho Planchet, "bà làm tôi nhẹ nhõm cả người; Aramis thân thiết của tôi đang ở đâu? Hãy để tôi ôm cậu ấy một cái, tôi đang nóng lòng muốn gặp lại cậu ấy quá đi mất."

"Thứ lỗi cho tôi, thưa ngài, nhưng tôi e rằng ngài ấy không thể tiếp ngài vào lúc này đâu."

"Sao lại thế? Cậu ấy đang bận tiếp một quý cô à?"

"Chúa ôi! Ngài đang nói gì vậy? Tội nghiệp chàng trai! Không, thưa ngài, ngài ấy chẳng có quý cô nào ở cùng cả."

"Vậy thì cậu ấy đang ở cùng ai?"

"Với cha xứ Montdidier và cha viện trưởng Dòng Tên1 ở Amiens."

"Lạy Chúa!" D'Artagnan thốt lên kinh ngạc, "chàng trai tội nghiệp đó lại trở bệnh nặng hơn sao?"

"Không đâu, thưa ngài, hoàn toàn ngược lại là đằng khác; nhưng sau cơn bạo bệnh, ân sủng từ trời cao đã chạm đến tâm hồn ngài ấy, và ngài ấy quyết định thụ phong linh mục."

"Ra là thế!" D'Artagnan gật gù, "tôi quên khuấy mất rằng cậu ấy chỉ khoác áo Ngự lâm quân tạm thời thôi."

"Ngài vẫn một mực muốn gặp ngài ấy chứ?"

"Hơn bao giờ hết."

"Vậy thì, ngài cứ theo lối cầu thang bên phải ngoài sân, rồi gõ cửa phòng số năm trên tầng hai."

D'Artagnan sải những bước dài vội vã theo hướng vừa được chỉ, và bước lên một trong những chiếc cầu thang lộ thiên mà ta vẫn thường thấy trong sân của những quán trọ kiểu cũ. Nhưng đường đến với chốn ẩn dật của vị cha xứ tương lai chẳng hề dễ dàng; lối vào căn phòng của Aramis được canh phòng cẩn mật chẳng kém gì những khu vườn của Armida2. Bazin đang chực sẵn ngoài hành lang, và xả thân chặn đường chàng với lòng can đảm tột độ, bởi sau bao năm mòn mỏi ngóng trông, Bazin nhận thấy mình đã sắp chạm tay vào thành quả mà anh ta hằng khao khát.

Thực tình mà nói, ước mơ lớn nhất đời Bazin là được hầu hạ một bậc tu sĩ; và anh ta luôn ngóng chờ bằng tất cả sự xốn xang cái khoảnh khắc - dẫu luôn ở thì tương lai - khi Aramis trút bỏ bộ quân phục để khoác lên mình chiếc áo chùng thâm. Lời hứa hẹn luôn được hâm nóng mỗi ngày của chàng thanh niên rằng cái ngày ấy sẽ chẳng còn xa xôi nữa, chính là sợi dây duy nhất níu chân anh ta ở lại hầu hạ một gã Ngự lâm quân - một công việc mà theo anh ta, luôn đặt linh hồn mình vào những hiểm nguy chực chờ.

Giờ phút này, Bazin đang ngây ngất trong niềm hoan hỉ tột cùng. Có nhiều khả năng là lần này, chủ nhân của anh ta sẽ chẳng rút lại quyết định. Sự dằn vặt giữa nỗi đau thể xác cùng sự chông chênh trong tâm hồn đã đơm hoa kết trái như mong đợi. Aramis, giữa cơn đau đớn rã rời cả về thể xác lẫn tâm can, rốt cuộc cũng chịu hướng ánh mắt và cõi lòng về bến bờ tôn giáo, coi tai ương kép giáng xuống đầu mình như một điềm báo từ trời cao; đó là sự biệt tăm đột ngột của người tình và vết thương ở vai.

Thế nên, cũng dễ hiểu khi với tâm trạng hiện thời của chủ nhân, chẳng có gì khiến Bazin gai mắt hơn sự xuất hiện của D'Artagnan, điều rất có thể sẽ kéo chủ nhân của anh ta lao lại vào vòng xoáy nhục dục thế tục đã cuốn trôi chàng quá lâu. Vì lẽ đó, anh ta quyết tử thủ trước cánh cửa; và vì, do sự mách lẻo của bà chủ quán, anh ta chẳng thể lấp liếm rằng Aramis đi vắng, đành phải giở lý lẽ để chứng minh với người mới đến rằng sẽ là đỉnh cao của sự vô ý tứ nếu cả gan quấy quả chủ nhân của anh ta giữa buổi đàm đạo thần học, buổi đàm đạo đã râm ran từ sáng sớm và theo lời Bazin, sẽ chẳng kết thúc trước khi màn đêm buông xuống.

Nhưng D'Artagnan nào có để lọt tai bài diễn thuyết hùng hồn của Bazin; và vì chẳng hơi đâu mà đôi co lý lẽ với gã người hầu của bạn mình, chàng chỉ đơn giản gạt phắt anh ta sang một bên bằng một tay, còn tay kia vặn thẳng tay nắm cửa phòng số năm. Cánh cửa bật mở, và D'Artagnan hiên ngang bước vào phòng.

Aramis khoác trên mình chiếc áo choàng đen, đầu đội một kiểu mũ trùm tròn trĩnh, dẹt phiu trông tựa như chiếc mũ calotte3 của các linh mục. Cậu đang ngồi trước một chiếc bàn dài thượt, bề bộn những cuộn giấy da và những pho sách khổng lồ. Bên tay phải cậu là vị Viện trưởng Dòng Tên, còn bên trái là cha xứ Montdidier. Rèm cửa được buông hờ một nửa, chỉ để lọt vào thứ ánh sáng mờ ảo, huyền bí, thứ ánh sáng vốn được trù tính để gợi lên những suy tưởng thánh thiện. Tất thảy những vật dụng phàm tục vốn dĩ hay đập vào mắt mỗi khi người ta bước vào phòng của một thanh niên, nhất là phòng của một chàng lính Ngự lâm, nay đã biến mất như có phép màu. Và hẳn là vì e sợ chúng sẽ lôi kéo tâm trí chủ nhân quay về với những thú vui trần thế, Bazin đã mang giấu nhẹm đi nào gươm, nào súng lục, nào mũ cắm lông chim, cùng đủ thứ trang phục thêu thùa ren rúa điệu đà. Đổi lại, trong một góc tối tăm, D'Artagnan đồ chừng mình thấp thoáng thấy một sợi roi tự hình4 treo lủng lẳng trên vách tường.

Nghe tiếng bước chân của D'Artagnan, Aramis khẽ ngẩng đầu lên và nhận ra bạn mình. Thế nhưng, trước sự ngỡ ngàng tột độ của chàng lính trẻ, sự xuất hiện của chàng dường như chẳng mảy may lay động được gã Ngự lâm quân kia, người mà tâm trí giờ đây đã hoàn toàn thoát tục, xa lánh cõi trần.

"Chào cậu, D'Artagnan thân mến," Aramis cất lời; "tin tôi đi, tôi rất vui khi gặp cậu."

"Tôi cũng rất đỗi vui mừng được gặp cậu," D'Artagnan đáp lời, "mặc dầu tôi vẫn chưa dám chắc người tôi đang nói chuyện cùng có đích thị là Aramis hay không."

"Chính là tôi đây, bạn tôi ơi, đích thị là tôi! Nhưng cớ sao cậu lại mang lòng ngờ vực?"

"Tôi cứ ngỡ mình đã bước nhầm phòng, lầm đường lạc bước vào chốn tư thất của một vị giáo sĩ đáng kính nào đó. Rồi một nỗi hoang mang khác lại xâm chiếm tâm trí tôi khi thấy cậu ngồi cùng những quý ngài đây-tôi e rằng cậu đang lâm trọng bệnh."

Hai người đàn ông áo đen, những người đã bắt thóp được ngụ ý của D'Artagnan, phóng về phía chàng một ánh nhìn sắc lẹm đầy đe dọa; nhưng D'Artagnan bận tâm gì đến điều đó.

"Có lẽ tôi làm phiền cậu chăng, Aramis thân mến của tôi," D'Artagnan tiếp lời, "bởi lẽ qua những gì tôi chứng kiến, tôi có cơ sở để tin rằng cậu đang xưng tội với những quý ngài này."

Aramis thoáng đỏ mặt. "Cậu làm phiền tôi sao? Ồ, hoàn toàn ngược lại, bạn thân mến, tôi thề đấy. Và để minh chứng cho những gì tôi nói, xin cho phép tôi được bày tỏ niềm hân hoan tột độ khi thấy cậu vẫn bình an vô sự."

"À, cậu ấy rồi sẽ trở lại bình thường thôi," D'Artagnan khấp khởi nghĩ thầm; "thế cũng không đến nỗi tệ!"

"Thưa các ngài, bạn của con đây vừa mới thoát khỏi một mối hiểm nguy chí mạng," Aramis tiếp tục, với một vẻ mặt trang nghiêm, tay hướng về phía D'Artagnan mà thưa chuyện với hai vị giáo sĩ.

"Ngợi khen Đức Chúa trời, thưa ngài," họ đồng thanh đáp lời, cùng cúi đầu thi lễ.

"Tôi đã không quên làm điều đó đâu, thưa các cha kính mến," chàng thanh niên đáp lời, cũng cúi đầu chào lại.

"Cậu đến thật đúng lúc, D'Artagnan thân mến," Aramis nói, "bằng việc tham gia vào cuộc mạn đàm của chúng ta, cậu có thể dùng trí tuệ minh mẫn của mình mà trợ giúp chúng ta. Ngài Viện trưởng của Amiens, cha xứ Montdidier và tôi đang mải mê tranh luận về vài vấn đề thần học vô cùng thú vị. Tôi sẽ rất lấy làm vinh hạnh nếu được lắng nghe cao kiến của cậu."

"Ý kiến của một kẻ múa kiếm phỏng có chút trọng lượng nào," D'Artagnan đáp lời, chàng đã bắt đầu thấy bực dọc trước chiều hướng của sự việc, "cậu nên bằng lòng với vốn kiến thức uyên thâm của những quý ngài đây, hãy tin tôi đi."

Đến lượt hai người mặc áo đen khẽ cúi đầu đáp lễ.

"Hoàn toàn ngược lại," Aramis phản bác, "ý kiến của cậu sẽ cực kỳ vô giá. Vấn đề là thế này: Ngài Viện trưởng cho rằng bản luận văn của tôi nên mang đậm tính giáo điều và răn dạy."

"Luận văn của cậu! Vậy ra cậu đang chấp bút một bản luận văn?"

"Chắc chắn rồi," vị linh mục Dòng Tên lên tiếng xác nhận. "Trong kỳ sát hạch trước khi thụ phong, một bản luận văn luôn là điều kiện tiên quyết."

"Thụ phong!" D'Artagnan thảng thốt kêu lên, chàng không sao tin nổi những lời mà bà chủ quán và Bazin lần lượt nói với chàng. Chàng trân trân nhìn, nửa như kẻ ngốc nghếch, vào ba con người đang an tọa trước mặt mình.

"Bây giờ," Aramis tiếp tục, vẫn duy trì cái tư thế duyên dáng trên chiếc ghế bành hệt như khi cậu đang ngả ngớn trên giường, và tự mãn ngắm nghía bàn tay mình, một bàn tay trắng trẻo và mũm mĩm chẳng kém gì tay phụ nữ, bàn tay mà cậu vừa giơ lên cao để máu chảy bớt xuống, "bây giờ, như cậu đã nghe đó, D'Artagnan, ngài Viện trưởng mong muốn luận văn của tôi phải mang tính giáo điều, trong khi tôi, về phần mình, lại muốn nó mang khuynh hướng lý tưởng hóa hơn. Chính vì lẽ đó mà ngài Viện trưởng đã đề xuất với tôi chủ đề sau đây, một chủ đề chưa từng được ai khai phá, và ở đó tôi nhận thấy có sẵn chất liệu cho một sự diễn giải tráng lệ-‘Utraque manus in benedicendo clericis inferioribus necessaria est.’"

D'Artagnan, người mà trình độ học vấn ra sao hẳn chúng ta đều đã tường tận, chẳng hề tỏ ra bận tâm khi nghe câu trích dẫn này hơn là câu nói của ngài de Tréville ám chỉ đến những món quà mà ông cho rằng chàng đã nhận từ Công tước Buckingham.

"Có nghĩa là," Aramis nói tiếp, cố tình diễn giải để chàng có thể nắm bắt một cách trọn vẹn, "‘Cả hai tay đều thiết yếu đối với các giáo sĩ thuộc bậc hạ phẩm, khi họ ban phước.’"

"Một chủ đề tuyệt luân!" vị linh mục Dòng Tên trầm trồ.

"Tuyệt luân và mang đậm tính giáo điều!" cha xứ phụ họa, người có vốn tiếng Latinh xem chừng cũng chỉ ngang ngửa D'Artagnan, đang cẩn trọng quan sát vị linh mục Dòng Tên để bắt kịp nhịp độ của ông, và lặp lại những lời của ông như một tiếng vọng.

Về phần D'Artagnan, chàng vẫn hoàn toàn trơ lỳ trước sự nhiệt tình thái quá của hai người mặc áo đen.

"Vâng, tuyệt luân! prorsus admirabile!" Aramis tiếp tục; "nhưng điều đó đòi hỏi một sự đào sâu nghiên cứu cả về Kinh thánh lẫn các vị Giáo phụ. Vậy mà, tôi đã thú nhận với những vị giáo sĩ uyên bác đây, với một sự khiêm nhường tột độ, rằng những đêm dài gác canh và công việc phụng sự đức vua đã khiến tôi đôi phần chểnh mảng việc bút nghiên. Do vậy, tôi sẽ thấy mình thoải mái hơn, facilius natans, trong một chủ đề do chính mình lựa chọn, một chủ đề đối với những vấn đề thần học hóc búa này cũng giống như đạo đức học đối với siêu hình học trong triết học vậy."

D'Artagnan bắt đầu cảm thấy mệt mỏi rã rời, và cha xứ cũng chẳng khá hơn.

"Hãy xem phần mở đầu này!" vị linh mục Dòng Tên thốt lên.

"Phần mở đầu," cha xứ lặp lại, cốt chỉ để tỏ ra mình có tham gia. "Quemadmodum inter cœlorum immensitatem."

Aramis liếc mắt sang D'Artagnan để dò xét xem tất cả những điều này tạo ra hiệu ứng gì, và bắt gặp bạn mình đang ngáp dài ngáp ngắn đến sái cả quai hàm.

"Chúng ta hãy dùng tiếng Pháp đi, thưa cha," cậu nói với vị linh mục Dòng Tên; "anh D'Artagnan sẽ tận hưởng cuộc trò chuyện của chúng ta trọn vẹn hơn."

"Đúng vậy," D'Artagnan đáp lời; "tôi đang mệt nhoài với việc đọc đây, và mớ tiếng Latinh này chỉ tổ khiến tôi thêm nhức đầu."

"Chắc chắn rồi," vị linh mục Dòng Tên đáp lại, thoáng chút khó chịu, trong khi cha xứ, như cất được gánh nặng, hướng về phía D'Artagnan một ánh nhìn đầy biết ơn. "Chà, hãy xem có thể rút tỉa được điều gì từ sự kiến giải này. Moses, bề tôi của Chúa-ông ấy chỉ là một bề tôi, xin hãy lưu tâm cho-Moses ban phước bằng tay; ông ấy dang cả hai cánh tay ra trong lúc người Do Thái giáng đòn tiêu diệt kẻ thù của họ, và sau đó ông ấy ban phước cho họ bằng cả hai bàn tay. Thêm vào đó, Phúc âm nói gì? Imponite manus, chứ không phải manum-đặt các bàn tay, chứ không phải một bàn tay."

"Đặt các bàn tay," cha xứ lặp lại, kèm theo một cử chỉ minh họa.

"Thánh Peter, ngược lại, người mà các Giáo hoàng là những đấng kế vị," vị linh mục Dòng Tên tiếp lời; "porrige digitos-đưa các ngón tay ra. Cậu thấu hiểu chưa?"

"Certes," Aramis đáp lại, bằng một giọng điệu mãn nguyện, "nhưng điều này thật quá đỗi tinh tế."

"Các ngón tay," vị linh mục Dòng Tên tiếp tục, "Thánh Peter ban phước bằng các ngón tay. Giáo hoàng, do vậy ban phước bằng các ngón tay. Và ngài ban phước bằng bao nhiêu ngón tay? Bằng ba ngón tay, chắc chắn là như thế rồi-một cho Chúa Cha, một cho Chúa Con, và một cho Chúa Thánh Thần."

Tất cả đều kính cẩn làm dấu thánh giá. D'Artagnan cho rằng việc làm theo tấm gương này là hợp lẽ nên cũng bắt chước làm theo.

"Giáo hoàng là đấng kế nhiệm Thánh Peter, và là hiện thân cho ba quyền năng thần thánh; phần còn lại-ordines inferiores-của hệ thống phẩm trật giáo hội ban phước nhân danh các tổng lãnh thiên thần và các thiên thần thánh thiện. Những viên thư ký thấp bé nhất chẳng hạn như phó tế và người coi nhà thờ của chúng ta, ban phước bằng những dụng cụ rắc nước thánh, thứ mô phỏng vô số những ngón tay ban phước. Đó là chủ đề đã được tối giản hóa. Argumentum omni denudatum ornamento. Tôi có thể phóng tác từ chủ đề đó ra hai tập sách có kích cỡ nhường này," vị linh mục Dòng Tên nói tiếp; và trong cơn hưng phấn bừng bừng, ông đập mạnh tay vào một pho sách folio của Thánh Chrysostom5, khiến chiếc bàn cong võng xuống dưới sức nặng của nó.

D'Artagnan khẽ rùng mình ớn lạnh.

"Certes," Aramis nói, "tôi xin ghi nhận vẻ đẹp của luận văn này; nhưng song song với đó tôi cũng nhận thấy nó quá tầm so với sức tôi. Tôi đã chọn đoạn văn bản này-hãy cho tôi biết, D'Artagnan thân mến, xem nó có thuận tai cậu không-‘Non inutile est desiderium in oblatione’; tức là, ‘Một chút luyến tiếc không phải là không thích hợp trong một lễ vật dâng lên Đức Chúa trời.’"

"Khoan dừng lại ở đó!" vị linh mục Dòng Tên gắt lên, "bởi lẽ luận văn đó chạm ranh giới sự dị giáo rồi. Có một mệnh đề tương tự như vậy trong cuốn Augustinus của tên trùm dị giáo Jansenius6, mà cuốn sách tà đạo của hắn sớm muộn gì cũng sẽ bị thiêu rụi bởi tay đao phủ. Hãy cẩn trọng, anh bạn trẻ của tôi. Cậu đang sa đà vào những giáo lý sai lầm đấy, anh bạn trẻ của tôi; cậu sẽ rước họa vào thân."

"Cậu sẽ rước họa vào thân," cha xứ phụ họa, xót xa lắc đầu.

"Cậu đang chạm trán điểm tự do ý chí khét tiếng đó, vốn là một tảng đá ngầm chết chóc. Cậu đối mặt với những lời lẽ mập mờ của phái Pelagius và phái bán Pelagius7."

"Nhưng, thưa cha kính mến-" Aramis đáp lại, đôi chút bàng hoàng trước cơn mưa lý lẽ dội xuống đầu mình.

"Cậu sẽ biện minh thế nào," vị linh mục Dòng Tên dồn ép, không để cho cậu có lấy một khe hở để thanh minh, "rằng chúng ta nên luyến tiếc thế gian trần tục khi chúng ta đã dâng hiến bản thân cho Chúa? Hãy lắng nghe cái thế tiến thoái lưỡng nan này đây: Chúa là Chúa, và thế gian trần tục là ác quỷ. Luyến tiếc thế gian tức là luyến tiếc ác quỷ; đó là phán quyết của tôi."

"Và đó cũng là phán quyết của tôi," cha xứ đồng tình.

"Nhưng, vì Chúa-" Aramis lại lên tiếng.

"Desideras diabolum, kẻ bất hạnh!" vị linh mục Dòng Tên thét lên.

"Cậu ấy luyến tiếc ác quỷ! Ôi, anh bạn trẻ của ta," cha xứ bồi thêm, vừa rền rĩ, "đừng luyến tiếc ác quỷ, ta khẩn khoản nài xin con!"

D'Artagnan cảm thấy đầu óc quay cuồng. Chàng có cảm giác như thể mình đang lạc vào một nhà thương điên, và bản thân cũng đang dần phát điên như những con người chàng đang nhìn thấy. Tuy nhiên, chàng đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt vì chẳng thể nào hiểu nổi một nửa cái thứ ngôn ngữ mà họ đang đàm đạo.

"Nhưng xin hãy nghe con nói chứ," Aramis tiếp lời với sự nhã nhặn xen lẫn chút bực dọc. "Con không hề nói rằng con luyến tiếc; không, con sẽ chẳng đời nào thốt ra câu đó, vì nó thật trái với giáo lý."

Vị linh mục Dòng Tên giương hai tay lên trời, và cha xứ cũng nhất nhất làm theo.

"Không; nhưng xin hãy thừa nhận với con rằng sẽ là vô ơn bạc nghĩa nếu ta chỉ dâng lên Chúa những thứ mà bản thân ta hoàn toàn chán ghét! Cậu không thấy vậy sao, D'Artagnan?"

"Quả thực tôi thấy vậy," chàng đồng tình.

Vị linh mục Dòng Tên và cha xứ gần như nảy tưng lên khỏi ghế.

"Đây là điểm khởi nguồn; đó là một phép tam đoạn luận8. Thế gian trần tục không thiếu những cám dỗ quyến rũ. Tôi dứt bỏ thế gian; sau đó tôi thực hiện một sự hy sinh. Giờ đây, Kinh thánh đã rành rành phán truyền, 'Hãy dâng một của lễ cho Chúa.'"

"Điều đó là chân lý," những người phản bác cậu nói.

"Và sau đó," Aramis nói, đưa tay véo tai để nó ửng đỏ lên, trong khi xuýt xoa hai bàn tay để chúng thêm phần trắng trẻo, "và sau đó tôi đã sáng tác một bài thơ rondeau9 về điều này vào năm ngoái, bài thơ mà tôi đã cho ngài Voiture xem qua, và người đàn ông vĩ đại đó đã dành tặng tôi không ngớt những lời tán dương."

"Một bài thơ rondeau!" vị linh mục Dòng Tên thốt lên, với vẻ khinh khỉnh.

"Một bài thơ rondeau!" cha xứ lặp lại, như một cái máy.

"Đọc nó nghe xem nào! Đọc nó nghe xem nào!" D'Artagnan kêu lên; "nó sẽ mang lại một chút đổi gió."

"Không thể thế được, vì nó mang âm hưởng tôn giáo," Aramis đáp lời; "nó là thần học được viết dưới dạng thi ca."

"Quỷ tha ma bắt!" D'Artagnan buột miệng.

"Nó đây," Aramis cất giọng, với một chút e thẹn, điều mà, tuy nhiên, không phải là không vương chút bóng dáng của thói đạo đức giả:

"Vous qui pleurez un passé plein de charmes, Et qui trainez des jours infortunés, Tous vos malheurs se verront terminés, Quand à Dieu seul vous offrirez vos larmes, Vous qui pleurez!"

"Bạn, người khóc thương cho những niềm vui đã tắt, Trong khi kéo lê một cuộc đời đầy âu lo, Mọi tai ương của bạn sẽ tan vào hư vô, Nếu những giọt lệ của bạn được dâng lên Chúa, Bạn, người khóc thương!"

D'Artagnan và cha xứ có vẻ tâm đắc. Vị linh mục Dòng Tên vẫn kiên định với lập trường của mình. "Hãy coi chừng một khuynh hướng báng bổ trong tư tưởng thần học của cậu. Thánh Augustine đã dạy sao về vấn đề này: 'Severus sit clericorum verbo.'"

"Đúng thế, hãy để cho bài giảng được sáng tỏ," cha xứ hùa theo.

"Bây giờ," vị linh mục Dòng Tên vội vã xen ngang, khi nhận thấy người phụ tá của mình đang đi trệch đường ray, "bây giờ luận văn của cậu sẽ làm nức lòng các quý bà quý cô; nó sẽ gặt hái được thành công vang dội ngang ngửa với một trong những bài hùng biện của ngài Patru10."

"Được Đức Chúa trời ban ơn!" Aramis kêu lên, giọng đầy xúc động.

"Đấy thấy chưa," vị linh mục Dòng Tên vạch trần; "thế gian trần tục vẫn đang lên tiếng mạnh mẽ bên trong cậu, altisimâ voce. Cậu vẫn vương vấn thế gian, anh bạn trẻ của tôi, và tôi e rằng ân sủng đã không phát huy tác dụng."

"Xin cha hãy an tâm, thưa cha kính mến, con hoàn toàn có thể tự chịu trách nhiệm về bản thân mình."

"Sự tự phụ của kẻ phàm tục!"

"Con thấu hiểu rõ bản ngã của mình, thưa cha; quyết định của con là bất di bất dịch."

"Vậy cậu vẫn khăng khăng bám lấy luận văn đó?"

"Con cảm nhận được tiếng gọi thôi thúc mình đào sâu vấn đề đó, và không một chủ đề nào khác. Con sẽ suy xét về việc tiếp tục triển khai nó, và ngày mai con hy vọng các cha sẽ mãn nguyện với những sửa đổi mà con sẽ thực hiện theo lời vàng ngọc của các cha."

"Hãy cứ túc tắc mà làm," cha xứ nói; "chúng ta để cậu lại trong một tâm thái tuyệt vời."

"Phải rồi, mảnh đất đã được gieo hạt," vị linh mục Dòng Tên đúc kết, "và chúng ta không phải nơm nớp lo sợ rằng một phần hạt giống có thể rơi xuống đá cằn, phần khác rơi xuống vệ đường, hay bầy chim trời đã sà xuống mổ lấy phần còn lại, aves cœli comederunt illam."

"Dịch bệnh nghẹt thở ông và cái mớ tiếng Latinh của ông đi!" D'Artagnan lầm bầm, chàng bắt đầu cảm thấy chút kiên nhẫn cuối cùng của mình đã cạn kiệt.

"Tạm biệt, con trai," cha xứ nói, "hẹn ngày mai."

"Hẹn ngày mai, chàng trai bốc đồng," vị linh mục Dòng Tên nói. "Cậu hứa hẹn sẽ trở thành một trong những ngọn hải đăng của Giáo hội. Cầu trời cho ngọn đèn này không phải là một ngọn lửa thiêu rụi tất thảy!"

D'Artagnan, người mà suốt một giờ đồng hồ qua đã gặm nhấm móng tay vì thiếu kiên nhẫn, bắt đầu cắn đến tận phần da thịt.

Hai người mặc áo đen đứng dậy, cúi chào Aramis và D'Artagnan, rồi cất bước tiến về phía cửa. Bazin, kẻ nãy giờ vẫn đứng chầu rìa lắng nghe tất cả cuộc tranh luận này với một sự hân hoan thành kính tột độ, lao vút về phía họ, cung kính đón lấy sách nhật tụng của cha xứ và sách lễ của vị linh mục Dòng Tên, rồi khúm núm bước đi trước mặt họ để dẹp đường.

Aramis tiễn họ đến tận chân cầu thang, và sau đó thoắt cái quay trở lại với D'Artagnan, người mà các giác quan vẫn còn đang mịt mùng trong trạng thái rối bời.

Khi chỉ còn lại hai người, ban đầu, họ chìm trong một sự im lặng đầy bối rối. Tuy nhiên, đành phải có người lên tiếng phá vỡ bầu không khí này, và vì D'Artagnan có vẻ quyết tâm nhường vinh dự đó cho bạn mình, Aramis đành mở lời: "Cậu thấy đấy, tôi đã quay trở lại với những dự định cội rễ của đời mình."

"Đúng thế, hồng ân soi sáng đã chạm đến cậu, như vị kia vừa nói."

"Ồ, kế hoạch lánh đời này vốn đã nhen nhóm từ lâu rồi. Cậu cũng từng nghe tôi nhắc đến mà, đúng không bạn tôi?"

"Đúng là vậy; nhưng thú thật, tôi luôn nghĩ cậu chỉ nói đùa."

"Nói đùa với những chuyện thiêng liêng như thế ư! Ồ, D'Artagnan!"

"Quỷ tha ma bắt! Có sao đâu, người ta vẫn mang cả cái chết ra đùa đấy thôi."

"Và mọi người đã sai lầm, D'Artagnan ạ; bởi vì cái chết chính là cánh cửa dẫn lối đến sự diệt vong hoặc ơn cứu rỗi."

"Đồng ý; nhưng nếu cậu không phiền, chúng ta đừng bàn chuyện thần học nữa, Aramis. Chắc cậu cũng đã nạp đủ cho hôm nay rồi. Về phần mình, tôi gần như đã rớt lại sạch sành sanh chút tiếng Latinh ít ỏi từng biết. Thú thật với cậu, tôi chưa bỏ bụng thứ gì từ mười giờ sáng nay, và giờ thì tôi đang đói cồn cào như quỷ sứ đây."

"Chúng ta sẽ dùng bữa ngay thôi, bạn tôi; chỉ có điều xin cậu nhớ cho hôm nay là thứ Sáu. Vào một ngày như vậy, tôi không thể ăn thịt, cũng chẳng thể nhìn người khác ăn thịt. Mong cậu có thể hài lòng với bữa tối của tôi-chỉ gồm rau bina luộc và trái cây."

"Ý cậu là sao khi nói rau bina?" D'Artagnan hỏi, vẻ mặt đầy khó ở.

"Ý tôi là rau chân vịt," Aramis đáp; "nhưng vì cậu, tôi sẽ chiếu cố thêm vài quả trứng. Dù vậy, đó là một sự vi phạm quy tắc nghiêm trọng đấy-vì trứng cũng được coi là thịt, bởi chúng nở ra gà."

"Bữa tiệc này nghe chừng chẳng mâm cao cỗ đầy gì cho cam; nhưng không sao, tôi sẽ ráng chịu đựng cốt để được nán lại cùng cậu."

"Tôi rất biết ơn sự hy sinh của cậu," Aramis nói; "nhưng nếu thể xác cậu chẳng được hưởng lợi lộc gì mấy từ bữa ăn, thì hãy an tâm là linh hồn cậu sẽ được bồi đắp dồi dào."

"Vậy ra, Aramis, cậu đã dứt khoát quyết định gia nhập Giáo hội sao? Hai người bạn của chúng ta sẽ nói gì đây? Ngài de Tréville sẽ nghĩ sao? Họ sẽ coi cậu như một kẻ đào ngũ cho xem, tôi cảnh báo cậu đấy."

"Tôi không gia nhập Giáo hội; mà là tôi trở về với nó. Xưa kia, tôi đã ruồng bỏ Giáo hội để chạy theo trần tục. Cậu biết đấy, tôi đã phải gượng ép bản thân vô cùng khi khoác lên mình bộ áo Ngự lâm quân."

"Tôi ư? Tôi có biết gì về chuyện đó đâu."

"Cậu không biết chuyện tôi từng rời khỏi chủng viện sao?"

"Hoàn toàn không."

"Vậy thì để tôi kể cho cậu nghe. Hơn nữa, Kinh thánh có răn: 'Hãy xưng tội cùng nhau,' và tôi xin xưng tội với cậu, D'Artagnan."

"Và tôi xin ban ơn xá giải cho cậu trước luôn. Cậu thấy đấy, tôi quả là một người vị tha."

"Đừng mang những điều thiêng liêng ra đùa cợt, bạn tôi ơi."

"Cậu kể tiếp đi, tôi đang dỏng tai nghe đây."

"Tôi đã sống ở chủng viện từ năm lên chín; và chỉ ba ngày nữa là tròn hai mươi tuổi. Tôi đang rèn luyện để trở thành một cha xứ, mọi thứ gần như đã được an bài. Một buổi tối, theo lệ thường, tôi ghé thăm một ngôi nhà mà mình vẫn hay lui tới với bao niềm hân hoan: khi người ta còn trẻ, cậu mong đợi điều gì chứ?-ai mà chẳng có lúc yếu lòng. Một gã sĩ quan tình cờ bắt gặp tôi, với ánh mắt ghen tuông hằn học, đang đọc cuốn Cuộc đời các Thánh cho nữ chủ nhân của ngôi nhà nghe. Hắn sấn sổ bước vào mà chẳng thèm báo trước. Tối hôm đó, tôi vừa dịch một đoạn trong câu chuyện của Judith11, và lúc đang ngâm nga những vần thơ ấy cho quý cô nọ-người đã dành cho tôi bao lời tán dương và đang tựa đầu vào vai tôi, cùng tôi đọc lại những dòng thơ ấy lần thứ hai. Tư thế của cô ấy, mà tôi phải thừa nhận là có phần suồng sã, đã khiến gã sĩ quan kia nóng mắt. Hắn không nói nửa lời; nhưng khi tôi cáo từ, hắn bám theo và nhanh chóng đuổi kịp tôi. 'Thưa ngài Cha xứ,' hắn xấc xược nói, 'ngài có thích nếm mùi gậy gộc không?' 'Tôi không rõ, thưa ngài,' tôi điềm tĩnh đáp; 'chưa kẻ nào dám đánh tôi bao giờ.' 'Vậy thì vểnh tai lên mà nghe đây, thưa ngài Cha xứ! Nếu ngài còn dám vác mặt đến ngôi nhà mà tôi vừa gặp ngài tối nay một lần nữa, chính tay tôi sẽ cho ngài biết tay.' Thú thực, lúc đó tôi hoảng sợ tột độ. Mặt tôi tái mét; đôi chân tôi bủn rủn, không còn chút sức lực. Tôi cố cạy miệng tìm một lời đáp trả, nhưng vô ích-tôi đành chết lặng. Gã sĩ quan chực chờ câu trả lời của tôi, và khi thấy tôi câm như hến, hắn phá lên cười khả ố, quay gót và đi thẳng vào ngôi nhà. Tôi đành lủi thủi trở về chủng viện.

"Vốn sinh ra trong một gia đình quý tộc, dòng máu chảy trong huyết quản tôi rất sục sôi, như cậu từng thấy đấy, D'Artagnan thân mến. Nỗi nhục nhã ê chề đó quả thật tồi tệ. Mặc dù thế gian chẳng ai hay biết, tôi vẫn cảm thấy nó đang gặm nhấm và mưng mủ tận sâu thẳm tâm can. Tôi bèn đệ đơn lên bề trên, lấy cớ rằng mình chưa chuẩn bị kỹ càng cho việc thụ phong, và nhờ vậy, buổi lễ được hoãn lại một năm. Tôi cất công lùng sục người thầy dạy đấu kiếm cừ khôi nhất Paris, giao kèo với ông ấy mỗi ngày một bài học, và ròng rã suốt một năm trời, không ngày nào tôi xao nhãng. Sau đó, vào đúng ngày kỷ niệm nỗi nhục năm xưa, tôi treo chiếc áo chùng thâm lên móc, khoác lên mình bộ trang phục của một kỵ sĩ, và ung dung đến dự một buổi dạ vũ do một cô bạn gái tổ chức, nơi tôi biết chắc gã đàn ông nọ cũng được mời. Buổi tiệc diễn ra ở phố des Francs-Bourgeois, gần nhà tù La Force12. Đúng như dự đoán, gã sĩ quan của tôi đang ở đó. Tôi đi thẳng về phía hắn khi hắn đang ngân nga một bản tình ca và trao ánh nhìn đắm đuối cho một quý cô. Tôi cắt ngang ngay giữa đoạn thơ thứ hai. 'Thưa ngài,' tôi dõng dạc, 'ngài có còn chướng mắt khi tôi lui tới một ngôi nhà nào đó ở phố Payenne không? Và ngài vẫn sẽ nện gậy vào người tôi nếu tôi ngoan cố không vâng lời ngài chứ?' Gã sĩ quan nhìn tôi trân trân vì kinh ngạc, rồi buông lời: 'Ngài có việc gì với tôi sao, thưa ngài? Tôi đâu có quen biết ngài.' 'Tôi chính là,' tôi gằn từng chữ, 'vị cha xứ nhỏ thó từng đọc cuốn Cuộc đời các Thánh, và dịch câu chuyện của Judith sang thơ đây.' 'À, à! Tôi nhớ ra rồi,' gã sĩ quan nhếch mép chế giễu; 'vậy ngài muốn gì ở tôi nào?' 'Tôi muốn ngài dành chút thời gian dạo bước cùng tôi.' 'Sáng mai nhé, nếu ngài muốn, tôi rất hân hạnh.' 'Không, không phải sáng mai, mà là ngay bây giờ, nếu ngài không phiền.' 'Nếu ngài đã nằng nặc yêu cầu.' 'Đúng, tôi nằng nặc yêu cầu điều đó.' 'Đi nào. Thưa các quý cô,' gã sĩ quan nói vọng lại, 'xin đừng bận tâm; cứ cho tôi xin vài phút để giải quyết quý ngài đây, rồi tôi sẽ quay lại hoàn thành nốt đoạn thơ dang dở.'

"Chúng tôi bước ra ngoài. Tôi dẫn hắn đến phố Payenne, dừng lại đúng cái nơi mà cách đây đúng một năm, vào chính giờ này, hắn đã ban cho tôi lời đe dọa mà tôi vừa kể cậu nghe. Đêm đó trăng sáng vằng vặc. Cả hai lập tức rút kiếm, và chỉ bằng một đường kiếm chớp nhoáng đầu tiên, tôi đã đâm hắn chết tươi."

"Quỷ tha ma bắt!" D'Artagnan thốt lên sững sờ.

"Và thế là," Aramis tiếp lời, "vì các quý cô mỏi mắt trông ngóng mà chẳng thấy chàng ca sĩ quay lại, trong khi xác hắn được phát hiện ở phố Payenne với một vết kiếm đâm xuyên ngực, người ta liền lờ mờ đoán ra chính tôi đã tiễn hắn về chầu trời. Vụ lùm xùm rùm beng ấy buộc tôi phải cởi bỏ chiếc áo chùng thâm trong một thời gian. Athos, người mà tôi quen biết dạo đó, cùng với Porthos, người đã truyền thụ cho tôi vài ngón đòn kiếm thuật chí mạng ngoài những bài học thường ngày, đã ra sức thuyết phục tôi xin gia nhập hàng ngũ Ngự lâm quân. Do nhà vua từng hết lòng trọng vọng cha tôi, người đã tử trận tại cuộc vây hãm Arras13, nên bộ quân phục ấy đã nhanh chóng được ban cho. Cậu có thể hiểu rằng, giờ đây, thời khắc để tôi trở về với vòng tay của Giáo hội đã điểm."

"Thế cớ sao lại là hôm nay, chứ không phải hôm qua hay ngày mai? Chuyện quái gì đã xảy đến với cậu hôm nay, mà lại khơi dậy mớ ý nghĩ sầu thảm này vậy?"

"Vết thương này, D'Artagnan thân mến ạ, chính là lời cảnh tỉnh mà Thượng đế gửi đến cho tôi."

"Vết thương này á? Thôi đi, giờ nó đã gần như lành lặn hẳn rồi, và tôi dám chắc đó không phải là điều khiến cậu rỉ máu nhiều nhất đâu."

"Vậy thì là gì?" Aramis vặn lại, mặt đỏ bừng.

"Cậu có một vết thương rỉ máu trong tim, Aramis ạ, một vết thương khoét sâu hơn và buốt nhói hơn nhiều-một vết thương do đàn bà gây ra."

Ánh mắt Aramis lóe sáng bất chấp mọi nỗ lực che giấu.

"À," cậu buông thõng, giấu nhẹm cảm xúc dưới vỏ bọc bất cần giả tạo, "đừng nhắc tới ba cái chuyện đó nữa, tôi mà lại phải chuốc lấy mớ sầu muộn vì tình sao? Vanitas vanitatum!14 Vậy ý cậu là, tâm trí tôi đang điên đảo vì tình. Mà vì ai cơ chứ-vì một ả thợ may grisette15 ất ơ nào đó, hay một cô hầu phòng mà tôi vô tình bỡn cợt ở chốn đồn trú nào đó ư? Nực cười!"

"Thứ lỗi cho tôi, Aramis thân mến, nhưng tôi cứ ngỡ cậu phải để mắt đến những bóng hồng cao sang hơn thế chứ."

"Cao sang hơn ư? Tôi là cái thá gì mà dám nuôi mộng tưởng vòi vọi ấy? Chỉ là một gã Ngự lâm quân nghèo rớt mùng tơi, một kẻ rách rưới, một gã vô danh tiểu tốt-kẻ căm ghét kiếp luồn cúi, và luôn thấy mình lạc lõng giữa cõi đời này."

"Aramis, Aramis!" D'Artagnan thốt lên, nhìn bạn mình với ánh mắt đầy hoài nghi.

"Tôi sinh ra từ cát bụi, rồi cũng sẽ trở về với cát bụi mà thôi. Cõi đời này vốn dĩ đã đầy rẫy những nỗi ê chề và sầu thảm," cậu thở dài, giọng não nuột hơn; "mọi sợi dây níu kéo con người với trần thế rồi cũng sẽ đứt vụn trong tay ta, nhất là những sợi dây bện bằng vàng. Ồ, D'Artagnan thân mến," Aramis nói tiếp, giọng thoáng chút đắng cay, "hãy tin tôi! Đừng dại dột mà phơi bày vết thương của mình; sự im lặng chính là niềm an ủi cuối cùng của kẻ bất hạnh. Hãy cẩn trọng, đừng hé nửa lời về nỗi đau của mình cho bất cứ kẻ nào; thói đời tò mò sẽ thi nhau bâu vào hút cạn nước mắt chúng ta, hệt như bầy ruồi khát máu bu lấy một con hươu đang hấp hối."

"Than ôi, Aramis thân mến," D'Artagnan buông một tiếng thở dài não nuột không kém, "đấy hóa ra lại là câu chuyện của chính tôi mà cậu đang kể đấy!"

"Sao cơ?"

"Đúng thế; người phụ nữ tôi yêu, người tôi nhất mực tôn thờ, vừa bị tước đoạt khỏi vòng tay tôi một cách tàn nhẫn. Tôi chẳng hay cô ấy đang phiêu bạt chốn nào, hay chúng đã lôi cô ấy đi đâu. Rất có thể nàng đang bị giam cầm; cũng có thể nàng đã vùi thây nơi đất khách!"

"Đành là vậy, nhưng ít ra cậu vẫn còn chút niềm an ủi sót lại, đó là cậu thừa biết cô ấy không hề tự nguyện dứt áo ra đi, rằng nếu cậu bặt vô âm tín về cô ấy, thì đó là do mọi liên lạc đều bị cắt đứt gắt gao; còn tôi thì-"

"Còn cậu thì sao?"

"Không có gì," Aramis lảng tránh, "không có gì cả."

"Vậy ra cậu nhất quyết vứt bỏ trần thế này, vĩnh viễn sao; đó đã là điều ván đã đóng thuyền-một quyết định không thể lay chuyển!"

"Vĩnh viễn! Cậu là bạn của tôi ngày hôm nay; nhưng ngày mai, đối với tôi, cậu sẽ chỉ còn là một cái bóng, hay đúng hơn, cậu sẽ hoàn toàn tan biến khỏi tâm trí tôi. Đối với tôi lúc này, thế giới chỉ là một nấm mồ lạnh lẽo, chẳng có gì hơn."

"Quỷ tha ma bắt! Sao những lời cậu tuôn ra cứ nghe sầu thảm thế nhỉ."

"Biết làm sao được? Ơn gọi của Thượng đế đang vẫy gọi; nó đang cuốn tôi đi."

D'Artagnan khẽ mỉm cười, nhưng chẳng buồn đáp lại.

Aramis chép miệng, "Cơ mà, khi vẫn còn nán lại trần gian này, tôi muốn trò chuyện về cậu-về những người bạn vào sinh ra tử của chúng ta."

"Còn về phần tôi," D'Artagnan hắng giọng, "tôi cũng rất muốn nói về cậu, nhưng tôi thấy cậu đã đoạn tuyệt hoàn toàn với sự đời mất rồi! Đang yên đang lành, cậu lại thốt lên: 'Chà! Bạn bè chỉ là những cái bóng! Thế giới chỉ là một nấm mồ!'"

"Than ôi, rồi sẽ có lúc chính cậu cũng thấy vậy thôi," Aramis khẽ buông một tiếng thở dài.

"Thôi được, vậy chúng ta đừng bàn về chuyện đó nữa," D'Artagnan nói, "hãy đốt quách bức thư này đi. Chắc chắn nó chỉ loan tin về một sự phản bội mới từ cô grisette hay cô hầu phòng nào đó của cậu mà thôi."

"Bức thư nào?" Aramis hăm hở kêu lên.

"Một bức thư đã được gửi đến chỗ ở của cậu trong lúc cậu đi vắng, và người ta đã nhờ tôi trao lại cho cậu."

"Nhưng bức thư đó do ai gửi?"

"Ồ, từ một cô hầu bàn đang sầu thảm, hay một cô grisette đang tuyệt vọng nào đó; hay có lẽ từ cô hầu phòng của phu nhân de Chevreuse. Chắc hẳn cô ả đã buộc phải trở về Tours cùng nữ chủ nhân của mình, và để làm ra vẻ thông minh hấp dẫn, cô ả đã đánh cắp một ít giấy thơm rồi đóng dấu bức thư bằng vương miện của một nữ công tước."

"Cậu nói sao cơ?"

"Khoan đã! Hình như tôi đánh mất nó mất rồi," chàng thanh niên tinh quái nói, giả vờ lục lọi tìm kiếm khắp nơi. "Nhưng thật may mắn thay, thế giới này chỉ là một nấm mồ; đàn ông, và do đó cả phụ nữ, đều chỉ là những cái bóng, và tình yêu chỉ là một thứ viển vông khiến cậu phải thốt lên: 'Chà! Chà!'"

"D'Artagnan, D'Artagnan," Aramis gào lên, "cậu đang giết tôi đấy!"

"Chà, cuối cùng thì nó đây rồi!" D'Artagnan nói, rút bức thư từ trong túi ra.

Aramis nhảy cẫng lên, vồ lấy bức thư, đọc nó, hay đúng hơn là ngấu nghiến từng chữ, khuôn mặt cậu rạng rỡ hẳn lên.

"Cô hầu bàn này có vẻ sở hữu phong cách viết thư khá êm ái đấy chứ," người đưa thư buông lời bình phẩm bâng quơ.

"Cảm ơn, D'Artagnan, cảm ơn!" Aramis reo lên, gần như trong cơn mê sảng. "Cô ấy bị buộc phải trở về Tours; cô ấy không hề phản bội; cô ấy vẫn yêu tôi! Lại đây, bạn của tôi, lại đây, để tôi ôm cậu một cái. Hạnh phúc làm tôi nghẹt thở mất rồi!"

Hai người bạn bắt đầu nhảy múa vòng quanh tập sách folio đáng kính của Thánh Chrysostom, đá bay những tờ giấy của bản luận văn đang nằm vương vãi trên sàn.

Đúng lúc đó, Bazin bưng món rau bina và món trứng tráng bước vào.

"Cút đi, đồ khốn!" Aramis quát lớn, ném thẳng chiếc mũ trùm đầu vào mặt anh ta. "Trở về nơi ngươi vừa tới đi; đem trả lại hết mấy thứ rau cỏ kinh tởm và đồ ăn kham khổ này mau! Hãy đặt một con thỏ rừng tẩm mỡ, một con gà trống thiến béo ngậy, một chiếc đùi cừu nấu tỏi, cùng bốn chai vang Burgundy hảo hạng ngay lập tức."

Bazin kinh ngạc nhìn chủ nhân, hoàn toàn không hiểu nổi nguyên do của sự biến đổi này. Với vẻ mặt sầu thảm, anh ta luống cuống để món trứng tráng trượt vào đĩa rau bina, rồi cả đĩa rau bina rơi choang xuống sàn.

"Giờ chính là lúc thích hợp để dâng hiến sự tồn tại của cậu cho Vua của các vị vua," D'Artagnan trêu chọc, "nếu cậu vẫn khăng khăng muốn bày tỏ lòng thành kính với ngài. Non inutile desiderium oblatione."

"Hãy cút xuống địa ngục cùng mớ tiếng Latinh của cậu đi. Uống thôi, D'Artagnan thân mến của tôi, morbleu! Hãy uống khi rượu còn nồng nàn! Hãy uống thật sảng khoái, và trong lúc đó, hãy kể cho tôi nghe đôi chút về những gì đang diễn ra ở thế giới ngoài kia."



  1. Dòng Tên (Jesuit) là một dòng tu Công giáo nổi tiếng với nền tảng học vấn uyên thâm, đặc biệt là trong các lĩnh vực triết học và thần học, cũng như quy luật kỷ luật khắt khe và sự trung thành tuyệt đối với Giáo hoàng. 

  2. Điển tích văn học chỉ một khu vườn phép thuật tuyệt mỹ nhưng đầy cám dỗ do nữ phù thủy Armida tạo ra trong sử thi "Jerusalem được giải phóng" (Jerusalem Delivered) của nhà thơ Ý Torquato Tasso thế kỷ 16, nhằm giam cầm các hiệp sĩ Cơ Đốc giáo. 

  3. Một loại mũ sọ nhỏ, ôm sát đỉnh đầu, thường được các giáo sĩ Công giáo đội. Phẩm trật của người đội thường được thể hiện qua màu sắc của mũ (ví dụ: đen cho linh mục, đỏ tía cho hồng y). 

  4. Dụng cụ gồm nhiều sợi dây nhỏ có thắt nút, được một số tín hữu hoặc tu sĩ dùng để tự đánh vào lưng nhằm hãm mình, khổ hạnh hoặc đền tội trong các thực hành tôn giáo. 

  5. Thánh Gioan Kim Khẩu (John Chrysostom, 347-407), một trong những Giáo phụ quan trọng nhất của thời kỳ Cơ Đốc giáo sơ khai. Ông nổi tiếng với tài hùng biện và những bài giảng kinh thánh xuất sắc, nên được tôn vinh bằng danh hiệu "Chrysostom" (trong tiếng Hy Lạp nghĩa là "miệng vàng"). 

  6. Cornelius Jansen (1585-1638), giám mục người Hà Lan, người khởi xướng phong trào thần học Jansenism nhấn mạnh vào tội lỗi nguyên thủy, sự tiền định và ân sủng. Phong trào này vấp phải sự phản đối gay gắt từ Dòng Tên và bị Giáo hội Công giáo lên án là tà giáo. 

  7. Các học thuyết thần học thời Cơ Đốc giáo sơ khai, cho rằng con người có thể tự do lựa chọn làm việc thiện và đạt được sự cứu rỗi bằng nỗ lực của bản thân mà không cần đến ân sủng của Thiên Chúa. Những quan điểm này bị coi là tà giáo. 

  8. Một hình thức suy luận logic học, trong đó từ hai tiền đề (một đại tiền đề và một tiểu tiền đề) người ta rút ra một kết luận tất yếu. 

  9. Một thể thơ truyền thống của Pháp, thường có 13 hoặc 15 dòng, với một điệp khúc xuất hiện ở đầu, giữa và cuối bài thơ, tuân theo những quy tắc gieo vần nghiêm ngặt. 

  10. Olivier Patru (1604-1681), một luật sư và nhà văn người Pháp nổi tiếng với tài hùng biện và phong cách ngôn ngữ tinh tế. Trong thế kỷ 17, các bài diễn văn của ông thường được giới quý tộc tán thưởng. 

  11. Một câu chuyện trong Kinh thánh Cựu Ước kể về Judith, một góa phụ người Do Thái xinh đẹp và can đảm. Bà đã dùng nhan sắc để quyến rũ và chặt đầu tướng thù Holofernes, cứu dân tộc mình khỏi sự diệt vong. 

  12. Một nhà tù nổi tiếng ở Paris, Pháp, được xây dựng từ một dinh thự cũ và từng giam giữ nhiều phạm nhân chính trị cũng như tội phạm hình sự trước khi bị phá bỏ vào thế kỷ 19. 

  13. Trận bao vây lịch sử diễn ra năm 1640 trong Chiến tranh Ba mươi năm, khi quân đội Pháp tiến đánh thành phố Arras lúc bấy giờ đang do Tây Ban Nha kiểm soát. 

  14. Cụm từ tiếng Latinh trích từ Sách Giảng viên (Ecclesiastes) trong Kinh thánh Cựu Ước, nghĩa là "Phù du của những phù du" hay "Tất cả chỉ là hư vô", thể hiện sự vô nghĩa và trống rỗng của những ham muốn trần tục. 

  15. Từ tiếng Pháp dùng ở thế kỷ 19 để chỉ những cô gái trẻ thuộc tầng lớp lao động tại Pháp, thường làm nghề thợ may, làm mũ hoặc bán hàng, được biết đến với lối sống tự do, phóng khoáng.