Chương XX. HÀNH TRÌNH
Vào lúc hai giờ sáng, bốn nhà thám hiểm của chúng ta lặng lẽ rời khỏi Paris qua ngả Barrière St. Denis1. Chừng nào bóng đêm còn buông màn, họ vẫn không nói với nhau một lời. Dù chẳng ai bảo ai, sự tĩnh mịch u ám của đêm đen vẫn vô tình đè nặng lên tâm trí họ, khơi dậy nỗi dè chừng về những cạm bẫy có thể rình rập tứ bề.
Phải đến khi những tia nắng đầu tiên ló dạng, môi họ mới hé nở nụ cười. Ánh mặt trời xua tan mây mù, thổi bùng lên bầu không khí rộn rã. Cảm giác lúc này hệt như đêm ngay trước thềm một trận chiến trường chinh; trái tim đánh nhịp liên hồi, ánh mắt rực sáng. Họ bất chợt nhận ra rằng sinh mệnh đang nằm trên lằn ranh sinh tử này, suy cho cùng, vẫn là một thứ vô cùng tươi đẹp.
Hơn thế nữa, khí thế của cả đoàn trông đầy sức thị uy. Những con ngựa ô của lính ngự lâm dũng mãnh sải bước, tôn lên phong thái oai hùng của những kỵ sĩ trên lưng. Nhịp điệu uy dũng tỏa ra từ những người bạn đồng hành cao quý này dư sức tố giác vỏ bọc ẩn danh dù là kỹ lưỡng nhất. Đám gia nhân bám theo phía sau cũng được trang bị vũ khí tận răng.
Mọi việc trôi chảy êm đềm cho tới lúc họ chạm chân đến Chantilly vào khoảng tám giờ sáng. Lúc này, cả đoàn cần phải dùng bữa sáng nên đã xuống ngựa trước thềm một quán trọ, nơi có treo tấm biển vẽ hình Thánh Martin đang xé nửa chiếc áo choàng của mình cho người ăn mày2. Họ căn dặn bọn hầu tuyệt đối không được tháo yên ngựa, phải luôn trong tư thế sẵn sàng để có thể lên đường lại ngay tắp lự.
Bước vào gian sảnh chung, họ yên vị quanh một chiếc bàn. Đã có một vị khách lạ mặt, người vừa từ con đường Dammartin tới, đang ngồi cùng bàn ăn sáng. Ông ta mở lời phá vỡ bầu không khí bằng dăm ba câu chuyện phiếm về chuyện thời tiết; các lữ khách của chúng ta cũng vui vẻ đáp lời. Khi người lạ mặt nâng ly chúc sức khỏe cả nhóm, họ cũng lịch thiệp làm điều tương tự.
Tuy nhiên, đúng lúc Mousqueton rảo bước tới bẩm báo rằng ngựa đã sẵn sàng và tất cả đang chuẩn bị đứng lên, người lạ mặt đột nhiên yêu cầu Porthos nâng ly chúc sức khỏe Giáo chủ. Porthos thẳng thừng đáp trả rằng anh sẽ vô cùng vinh hạnh làm điều đó, miễn là người kia cũng phải nâng ly chúc sức khỏe nhà vua. Gã lạ mặt gằn giọng tuyên bố gã không thừa nhận bất cứ vị vua nào khác ngoài Đức ngài. Porthos lập tức chửi gã là một tên bợm nhậu, và ngay tắp lự, lưỡi kiếm của gã lạ mặt đã tuốt khỏi vỏ.
"Cậu vừa làm một việc vô cùng dại dột," Athos cất lời, "nhưng sự đã rồi, giờ thì không thể nào chùn bước được nữa. Giết quách hắn đi, rồi quay lại hội quân với chúng tôi càng sớm càng tốt."
Cả ba người còn lại lập tức lên ngựa, phi nước đại, bỏ lại phía sau tiếng Porthos đang hứa hẹn sẽ cho đối thủ nếm đủ mọi ngón đòn đâm chém mà anh từng học được trong các võ đường.
"Đã mất đi một người!" Athos buông tiếng thở dài khi họ vừa đi được chừng năm trăm bước.
"Nhưng tại cớ làm sao gã đó lại nhắm vào Porthos mà không phải là một ai khác trong số chúng ta?" Aramis thắc mắc.
"Bởi vì Porthos ăn to nói lớn hơn tất cả, nên hắn đinh ninh cậu ấy là thủ lĩnh," D'Artagnan đáp lại.
"Tôi vẫn luôn miệng nói rằng cậu lính trẻ vùng Gascony này quả là một cái giếng chứa đầy sự khôn ngoan," Athos lẩm bẩm khen ngợi, và rồi những lữ khách lại tiếp tục rong ruổi trên chặng đường dài.
Đến Beauvais, họ quyết định dừng chân hai giờ đồng hồ, vừa để những con ngựa mệt lả có thời gian hồi sức, vừa ngóng đợi Porthos. Thế nhưng, hai giờ trôi qua vẫn bặt vô âm tín, không thấy bóng dáng cũng chẳng có lấy một tin tức nào về anh bạn, họ đành phải tiếp tục lên ngựa.
Cách Beauvais chừng một dặm, ngay đoạn đường đất chưa được lát đá bị kẹp chặt giữa hai bờ đất dốc đứng, họ đụng mặt tám hay mười gã đàn ông. Những kẻ này dường như đang đào hố và dùng bùn đất lấp đầy những vết bánh xe rãnh sâu.
Aramis, vốn không hề muốn đôi bốt láng bóng của mình bị vấy bẩn bởi đống bùn nhão nhoét ấy, đã lớn tiếng quát nạt lũ người kia bằng thái độ khá gay gắt. Athos định bụng can ngăn bạn, nhưng đã quá muộn màng. Đám thợ lập tức buông lời cợt nhả, và chính sự xấc xược ngoan cố ấy đã phá vỡ mất sự điềm tĩnh thường thấy của một Athos lạnh lùng. Anh nổi cơn thịnh nộ, thúc ngựa lao thẳng vào một tên trong đám.
Ngay lập tức, lũ người kia đồng loạt lùi dần về phía con mương rãnh. Từ đó, mỗi gã rút ra một khẩu súng hỏa mai3 đã được ngụy trang cẩn thận. Bất ngờ bị đánh úp, bảy lữ khách của chúng ta rơi vào cảnh yếu thế về hỏa lực. Aramis dính một viên đạn xuyên ngang qua vai, còn Mousqueton thì nhận trọn một viên găm thẳng vào vùng thịt mông kéo dài từ phần dưới hông. Kết cục là, chỉ có mỗi Mousqueton ngã nhào khỏi lưng ngựa. Chẳng phải vì vết thương quá đỗi chí mạng, mà bởi không thể tận mắt nhìn thấy thương tích của mình, anh ta cứ đinh ninh rằng nó nghiêm trọng hơn rất nhiều so với thực tế.
"Đây là một cuộc phục kích!" D'Artagnan hét lớn rách cả họng. "Đừng phí đạn làm gì! Tiến lên!"
Aramis, dù đang chịu đau đớn, vẫn cố bám chặt lấy bờm ngựa, để con vật trung thành mang anh thoát đi cùng những người khác. Con ngựa không chủ của Mousqueton cũng phi nước đại bám sát theo những người bạn đồng hành.
"Việc này sẽ giúp chúng ta có thêm một trạm đổi ngựa giữa đường," Athos bình phẩm.
"Tôi thà có lại chiếc mũ của mình thì hơn," D'Artagnan nói. "Mũ của tôi đã bị một viên đạn mang đi mất rồi. Phước đức làm sao khi bức thư không nằm trong đó."
"Bọn chúng sẽ giết chết Porthos tội nghiệp mất thôi một khi cậu ấy tìm đến đây," Aramis lo lắng.
"Nếu Porthos còn đủ sức đứng vững trên đôi chân của mình, thì giờ này cậu ấy đã đuổi kịp chúng ta rồi," Athos điềm nhiên đáp. "Theo ý kiến của tôi, cái gã say xỉn kia hoàn toàn không hề say một chút nào đâu."
Họ tiếp tục phóng đi với tốc độ bão táp trong suốt hai giờ đồng hồ, mặc cho những con ngựa đã kiệt sức đến độ đáng báo động, dường như chúng sẽ sớm gục ngã và không thể phục vụ được nữa.
Các lữ khách đã cố tình chọn những ngã rẽ với hy vọng tránh được những phiền toái; nhưng khi đến Crèvecœur, Aramis đành tuyên bố anh không thể gắng gượng đi xa hơn được nữa. Quả thực, anh đã phải vắt kiệt tất cả lòng can đảm ẩn sâu bên dưới vẻ ngoài thanh lịch và cung cách tao nhã của mình để có thể cầm cự đến tận đây. Khuôn mặt anh ngày càng trở nên trắng bệch theo từng phút, và những người còn lại buộc phải dùng tay đỡ anh trên lưng ngựa. Họ bế anh xuống ngay trước cửa một quán rượu nhỏ. Bazin được cắt cử ở lại chăm sóc anh, bởi lẽ trong một cuộc đụng độ, gã hầu này chỉ tổ gây vướng víu chứ chẳng được tích sự gì. Sau đó, họ lại tiếp tục lên đường, nuôi hy vọng sẽ kịp qua đêm tại Amiens.
"Chết tiệt thật," Athos rủa thầm ngay khi họ vừa mới lăn bánh, "giờ chỉ còn lại hai người chủ cùng với Grimaud và Planchet! Khỉ thật! Tôi thề sẽ không để bị mắc lừa thêm lần nào nữa đâu. Từ đây cho đến tận Calais, tôi sẽ không cạy miệng hé nửa lời cũng chẳng thèm rút kiếm ra nữa. Tôi thề có-"
"Đừng có phí thời gian thề thốt vô bổ nữa," D'Artagnan ngắt lời; "hãy phi nước đại nào, nếu như những con ngựa của chúng ta vẫn còn chịu nghe lời."
Hai lữ khách vung gót, cắm ngập cựa sắt vào mạn sườn ngựa. Bị kích động mạnh, những con vật tội nghiệp dường như bừng tỉnh, cố vắt kiệt chút sức tàn. Nửa đêm, họ tới được Amiens và ghé vào quán trọ Hoa Huệ Vàng.
Gã chủ quán hiện ra với vẻ mặt của kẻ lương thiện nhất cõi đời. Hắn ra nghênh đón khách, một tay cầm chân nến, tay kia xách chiếc mũ ngủ bằng bông. Hắn đon đả muốn bố trí cho mỗi người một căn buồng thật khang trang; nhưng oái oăm thay, hai căn buồng ấy lại nằm ở hai đầu đối diện của quán trọ. D'Artagnan và Athos lập tức chối từ. Gã chủ quán phân bua rằng hắn chẳng còn phòng nào khác xứng tầm với các ngài. Bỏ ngoài tai lời giải thích, hai lữ khách tuyên bố sẽ ngủ luôn tại phòng sinh hoạt chung, mỗi người ngả lưng trên một tấm nệm vứt đại xuống sàn. Gã chủ quán ra sức nài nỉ, nhưng thái độ kiên quyết của họ buộc hắn phải ngậm ngùi chiều ý.
Vừa thu xếp xong chỗ ngả lưng và kéo đồ đạc chặn kín cánh cửa bên trong thì họ chợt nghe tiếng gõ cộc cộc vào cánh cửa chớp hướng ra sân. Cả hai cảnh giác hỏi xem ai đó, và chỉ đến khi nhận ra giọng nói của đám hầu cận, họ mới hé cửa. Quả thực, đó là Planchet và Grimaud.
"Grimaud có thể lo liệu cho bầy ngựa," Planchet lên tiếng. "Nếu các ngài ưng thuận, thưa các ngài, tôi sẽ ngủ chắn ngang cửa phòng. Như thế, các ngài cứ yên tâm rằng chẳng kẻ nào có thể bén mảng tới gần."
"Và cậu định ngủ trên cái gì?" D'Artagnan hỏi.
"Giường của tôi đây," Planchet đáp lời, đoạn lôi ra một bó rơm.
"Vậy thì vào đi," D'Artagnan bảo, "cậu nói đúng. Bộ mặt của gã chủ quán làm tôi thấy gợn gợn thế nào ấy; hắn ân cần thái quá."
"Tôi cũng có cùng suy nghĩ," Athos phụ họa.
Planchet trèo qua cửa sổ, ngoan ngoãn nằm chắn ngang lối ra vào, trong khi Grimaud tự nhốt mình trong chuồng ngựa, đoan chắc rằng đến đúng năm giờ sáng, anh ta và cả bốn con ngựa sẽ trong tư thế sẵn sàng.
Đêm chìm vào tĩnh lặng. Tầm hai giờ sáng, có kẻ nào đó lần mò cố cạy cửa. Nhưng Planchet tỉnh giấc ngay tắp lự, quát lớn: "Ai đó?". Một giọng lúng túng đáp lại rằng gã ta vào nhầm phòng, rồi vội vã lủi đi.
Đến bốn giờ sáng, một tràng âm thanh hỗn loạn dội lên từ phía chuồng ngựa. Grimaud lay gọi đám phu trạm, và kết cục là bị chúng xúm lại đánh hội đồng. Khi Athos và D'Artagnan bật tung cửa sổ nhìn ra, họ bàng hoàng thấy chàng hầu tội nghiệp đang nằm bất tỉnh nhân sự, đầu tóe máu sau một cú bổ trời giáng bằng chĩa ba.
Planchet vội vã chạy xuống sân định thắng yên cho đàn ngựa, nhưng khốn nỗi, những con vật tội nghiệp đều đã kiệt sức. Chỉ duy nhất con ngựa của Mousqueton, con ngựa đã chạy không tải suốt năm sáu giờ ngày hôm trước, là còn gượng gạo bước tiếp được. Thế nhưng, bởi một sự nhầm lẫn không thể tưởng tượng nổi, gã bác sĩ thú y được mời tới để trích máu chữa bệnh cho một trong những con ngựa của quán, lại đè ngửa con ngựa của Mousqueton ra mà trích máu.
Tình thế bắt đầu trở nên mờ ám. Hàng loạt tai ương giáng xuống liên tiếp này có thể chỉ là sự trùng hợp rủi ro, nhưng cũng rất có thể là nanh vuốt của một âm mưu giăng sẵn. Athos và D'Artagnan bước ra ngoài, cắt cử Planchet đi dò la xem quanh đây có chỗ nào bán ba con ngựa không. Ngay trước cổng quán trọ sừng sững hai con chiến mã lực lưỡng, sung sức và thắng yên cương chỉnh tề. Quá lý tưởng cho một cuộc đào tẩu! Planchet lân la gặng hỏi xem chủ nhân của chúng là ai, thì được hay rằng hai vị khách nọ vừa qua đêm tại quán trọ và hiện đang thanh toán tiền phòng với chủ quán.
Athos bèn đi xuống thanh toán hóa đơn, trong lúc D'Artagnan và Planchet án ngữ ở cửa chính hướng ra đường lớn. Gã chủ quán đang đợi trong một căn phòng thấp lè tè nằm tít phía sau, nơi Athos vừa được người ta chỉ tới.
Không mảy may nghi ngờ, Athos bước vào, lấy ra hai đồng pistole để trả tiền phòng. Trong phòng chỉ có gã chủ quán ngồi đơn độc trước bàn làm việc, một ngăn kéo hé mở hờ hững. Hắn đón lấy mấy đồng tiền từ tay Athos, lật qua lật lại soi mói hồi lâu, rồi thình lình tru tréo lên rằng đó là tiền giả. Hắn lu loa đòi tống giam anh cùng những người bạn đồng hành với tội danh phát hành tiền giả.
"Mày là đồ khốn nạn!" Athos gầm lên, sấn tới chỗ hắn. "Tao sẽ cắt tai mày!"
Đúng lúc ấy, bốn gã đàn ông võ trang tận răng từ các cánh cửa phụ ập vào, lao thẳng về phía Athos.
"Tôi bị phục kích rồi!" Athos vắt kiệt sức lực từ buồng phổi, hét vọng ra. "Đi tiếp đi, D'Artagnan! Thúc cựa đi, thúc cựa đi!"
Kèm theo tiếng hét là hai tiếng súng lục chát chúa vang lên.
D'Artagnan và Planchet chẳng cần đợi đến câu thứ hai. Họ giật phăng dây cương hai con chiến mã đang buộc ngoài cửa, tót lên lưng, cắm ngập cựa sắt vào sườn ngựa và phóng đi như một cơn lốc.
"Cậu có kịp thấy chuyện gì xảy ra với Athos không?" D'Artagnan ngoái lại hỏi Planchet khi cả hai đang phi nước đại.
"Ôi, thưa ngài," Planchet hổn hển nói, "sau mỗi phát súng của anh ấy, tôi lại thấy một bóng người đổ gục. Xuyên qua ô cửa kính, tôi thấy anh ấy đang tuốt kiếm tử chiến với những kẻ còn lại."
"Athos thật quả cảm!" D'Artagnan xót xa lầm bầm. "Thế mà chúng ta lại buộc phải bỏ anh ấy lại; biết đâu chỉ chừng hai bước chân nữa, một số phận tương tự cũng đang chờ đón chúng ta. Tiến lên, Planchet, tiến lên! Cậu thật là một chàng trai dũng cảm."
"Như tôi đã nói với ngài, thưa ngài," Planchet đáp lời, "người Picard4 nổi tiếng dũng cảm một khi được tin dùng. Hơn nữa, tôi đang phi ngựa trên chính quê hương mình, và điều đó khiến máu trong người tôi sôi sục."
Cả hai thúc mạnh cựa giày, phi nước đại đến thẳng St. Omer mà chẳng màng giật cương nghỉ ngơi. Tại St. Omer, họ mới tạm dừng cho ngựa thở, dây cương cẩn thận luồn dưới cánh tay đề phòng bất trắc. Họ đứng ngay trên những phiến đá lát đường phố, vội vã cắn miếng thức ăn trên tay rồi lại tiếp tục lên đường.
Cách cổng thành Calais chừng trăm bước, con ngựa của D'Artagnan kiệt sức ngã quỵ, máu ứa ra từ mắt và mũi, không tài nào gượng dậy nổi. Con ngựa của Planchet tuy vẫn trụ được, nhưng lại khựng lại đột ngột, chẳng chịu nhúc nhích thêm nửa bước.
May mắn thay, như đã nói, họ cách thành phố chưa đầy một trăm bước. Cả hai đành bỏ lại cặp ngựa tàn tạ trên đường cái rồi ba chân bốn cẳng chạy về phía bến cảng. Đột nhiên, Planchet khều chủ nhân, chỉ tay về phía một vị quý tộc vừa đến cùng gã hầu, đi trước họ chừng năm mươi bước. Hai thầy trò gắng sức bắt kịp vị quý tộc nọ, người có vẻ cũng đang vội vã không kém. Đôi bốt của ông ta bám đầy bụi đường, và ông ta đang cất tiếng hỏi liệu mình có thể lập tức sang Anh ngay được không.
"Chẳng có gì dễ hơn thế," viên thuyền trưởng của một con tàu đã sẵn sàng nhổ neo đáp lời, "nhưng sáng nay vừa có lệnh cấm bất kỳ ai rời cảng nếu không có giấy thông hành đích danh từ Đức Hồng y."
"Tôi có giấy phép đó đây," vị quý tộc đáp, rút từ trong túi ra một tờ giấy. "Nó đây."
"Xin ngài hãy mang đến cho viên Thống đốc cảng kiểm tra, và nhớ dặn ông ấy ưu tiên tàu của tôi," thuyền trưởng nói.
"Tôi có thể tìm viên Thống đốc ở đâu?"
"Tại dinh thự ở ngoại ô của ông ấy."
"Dinh thự đó nằm ở hướng nào?"
"Cách thành phố chừng một phần tư dặm. Ngài nhìn kìa, từ đây cũng có thể thấy được - ngay dưới chân ngọn đồi nhỏ đó, tòa nhà lợp mái ngói đá phiến ấy."
"Tốt lắm," vị quý tộc nói. Thế rồi, cùng với gã hầu, ông ta sải bước theo con đường dẫn đến dinh thự ngoại ô của viên Thống đốc.
D'Artagnan và Planchet giữ khoảng cách chừng năm trăm bước, lặng lẽ bám theo vị quý tộc. Vừa ra khỏi thành phố, D'Artagnan tăng tốc đuổi kịp ông ta ngay khi hai người kia vừa bước vào một khu rừng nhỏ.
"Thưa ngài, ngài có vẻ đang rất vội?"
"Không ai trên đời có thể vội hơn tôi lúc này đâu, thưa ngài."
"Tôi rất lấy làm tiếc," D'Artagnan nói, "vì tôi cũng đang gấp rút không kém, nên tôi muốn xin ngài một đặc ân."
"Đặc ân gì?"
"Nhường tôi lên tàu trước."
"Không thể nào," vị quý tộc đáp. "Tôi đã vượt sáu mươi dặm đường trong bốn mươi giờ qua, và đúng giữa trưa mai tôi phải có mặt tại London."
"Tôi cũng đã vượt ngần ấy quãng đường trong bốn mươi giờ, và mười giờ sáng nay tôi đã phải có mặt ở London rồi."
"Rất tiếc, thưa ngài, nhưng tôi đến trước, nên không có lý gì tôi lại lên tàu sau."
"Tôi cũng lấy làm tiếc, thưa ngài, tuy đến sau, nhưng tôi buộc phải lên tàu trước."
"Ta đang đi làm nhiệm vụ của Đức vua!" vị quý tộc gắt lên.
"Còn ta thì làm nhiệm vụ của chính mình!" D'Artagnan dõng dạc.
"Theo tôi thấy, ngài đang cố tình kiếm chuyện vô cớ với tôi thì phải."
"Mẹ kiếp! Thế ngài nghĩ đây là chuyện gì?"
"Ngài muốn gì?"
"Ngài thực sự muốn biết sao?"
"Chắc chắn rồi."
"Vậy thì, tôi muốn tờ giấy thông hành mà ngài đang giữ, bởi vì tôi chẳng có tờ nào và tôi buộc phải có nó."
"Tôi cho rằng ngài đang đùa."
"Tôi không bao giờ đùa."
"Tránh đường cho ta đi!"
"Ngươi sẽ không được qua."
"Này chàng trai trẻ to gan, ta sẽ bắn vỡ sọ ngươi. Lubin, đưa súng lục cho ta!"
"Planchet!" D'Artagnan hô lớn. "Xử lý tên hầu đi, ta sẽ tiếp đón gã chủ."
Planchet, vẫn đang hừng hực khí thế từ chiến công đầu tiên, lập tức chồm lên Lubin. Vốn vạm vỡ và sung sức, cậu nhanh chóng vật ngửa tên hầu ra đất, thúc đầu gối lên ngực hắn.
"Ngài cứ thong thả làm việc của mình đi, thưa ngài!" Planchet ngoái lại hét lên. "Phần tôi đã xong xuôi cả rồi."
Thấy vậy, vị quý tộc lập tức rút kiếm, lao vút về phía D'Artagnan. Nhưng ông ta đã đụng phải một đối thủ quá đáng gờm. Chỉ trong vòng ba giây, D'Artagnan đã đâm trúng ông ta ba nhát, mỗi nhát kiếm tuốt ra lại vang lên một tiếng hô: "Một nhát cho Athos! Một nhát cho Porthos! Và một nhát cho Aramis!"
Đến nhát thứ ba, vị quý tộc ngã vật xuống như một khúc gỗ. Tưởng ông ta đã chết, hay chí ít cũng ngất xỉu, D'Artagnan liền bước tới định lấy tờ giấy thông hành. Thế nhưng, đúng khoảnh khắc anh vươn tay ra, người đàn ông đầy thương tích kia, kẻ nãy giờ vẫn nắm chặt thanh kiếm, bất thần đâm thẳng mũi kiếm vào ngực D'Artagnan, rít lên: "Một nhát cho ngươi!"
"Và một nhát cho ta-nhát kết liễu chí mạng!" D'Artagnan gầm lên điên tiết, đâm thẳng nhát thứ tư xuyên qua cơ thể kẻ địch, ghim chặt ông ta xuống nền đất lạnh.
Lần này, vị quý tộc từ từ nhắm mắt và lịm đi. D'Artagnan vội vã lục lọi túi áo ông ta, rút ra tờ giấy thông hành. Trên đó ghi rõ cái tên: Bá tước de Wardes.
Đưa mắt nhìn người thanh niên dung mạo tuấn tú, tuổi đời chắc chưa quá hai mươi lăm, giờ đây đang nằm bất tỉnh, thậm chí có thể đã lìa đời trong vũng máu, D'Artagnan không khỏi buông một tiếng thở dài. Anh xót xa cho cái số mệnh nghiệt ngã, thứ xui khiến con người ta phải tàn sát lẫn nhau chỉ vì lợi ích của những kẻ xa lạ, những kẻ mà có khi họ còn chẳng biết là có tồn tại trên đời. Nhưng dòng suy tư của anh nhanh chóng bị cắt ngang bởi Lubin, kẻ nãy giờ vẫn đang kêu gào thảm thiết, vắt kiệt sức lực để cầu cứu.
Planchet bóp nghẹt cổ họng hắn, dồn toàn bộ sức bình sinh ấn mạnh xuống. "Thưa ngài," cậu nói, "chừng nào tôi còn kẹp cổ hắn thế này thì tôi dám chắc hắn chẳng mở miệng kêu la được. Nhưng chỉ cần tôi lơi tay là hắn sẽ lại tru tréo lên cho xem. Tôi lạ gì lũ người Norman5, cái bọn này vốn nổi tiếng bướng bỉnh."
Quả thực, dù bị bóp cổ nghẹt thở, Lubin vẫn cố rướn cổ ú ớ.
"Dừng tay lại!" D'Artagnan ra lệnh. Anh rút chiếc khăn tay của mình ra rồi nhét chặt vào miệng gã hầu.
"Bây giờ," Planchet lên tiếng, "ta trói quách hắn vào gốc cây đi ngài."
Sau khi trói gô Lubin một cách cẩn thận, hai thầy trò kéo Bá tước de Wardes nằm lại gần tên hầu. Màn đêm đã bắt đầu buông xuống, và vì chỗ hai kẻ một trọng thương, một bị trói nằm khuất khá sâu trong rừng, nên gần như chắc chắn chúng sẽ phải nằm lại đây đến tận sáng hôm sau.
"Và bây giờ," D'Artagnan dứt khoát, "chúng ta đến tìm viên Thống đốc thôi."
"Nhưng ngài có vẻ đang bị thương nặng đấy," Planchet lo lắng lên tiếng.
"Ồ, vết thương nhỏ ấy mà! Việc quan trọng hơn phải lo trước đã, xong xuôi ta sẽ băng bó sau. Vả lại, nó cũng chẳng nghiêm trọng lắm đâu."
Nói đoạn, cả hai sải bước nhanh nhất có thể, nhắm thẳng hướng dinh thự ngoại ô của vị quan chức đáng kính nọ.
Bá tước de Wardes được báo danh, và D'Artagnan đường hoàng bước vào trong.
"Ngài cầm theo tờ giấy thông hành có chữ ký của Đức Hồng y sao?" viên Thống đốc hỏi.
"Vâng, thưa ngài," D'Artagnan điềm nhiên đáp, "nó đây."
"À, ra vậy! Mọi thứ đều hợp lệ và rất rõ ràng," viên Thống đốc xem xét.
"Hẳn là vậy," D'Artagnan tự tin. "Tôi là một trong những tay chân trung thành nhất của Đức ngài mà."
"Có vẻ như Đức ngài đang rất nóng lòng muốn ngăn chặn một kẻ nào đó định đào tẩu sang Anh phải không?"
"Chính xác. Một gã tên D'Artagnan, quý tộc vùng Béarn. Hắn vừa rời Paris cùng ba tên chiến hữu, âm mưu vượt biển tới London."
"Thế ngài có biết mặt mũi hắn ta ra sao không?" viên Thống đốc gặng hỏi.
"Ai cơ?"
"Tên D'Artagnan đó."
"Tôi biết quá rõ là đằng khác."
"Vậy xin ngài hãy mô tả lại nhân dạng hắn cho tôi."
"Chẳng có gì dễ hơn thế."
Và rồi, D'Artagnan điềm tĩnh phác họa lại chi tiết từng đường nét, đặc điểm nhân dạng của Bá tước de Wardes.
"Hắn có đồng bọn đi cùng không?"
"Có, một gã hầu tên là Lubin."
"Chúng tôi sẽ để mắt sát sao tới bọn chúng. Và nếu tóm được, Đức ngài cứ yên tâm, chúng tôi sẽ áp giải chúng về tận Paris dưới sự canh gác nghiêm ngặt nhất."
"Nếu làm được điều đó, thưa ngài Thống đốc," D'Artagnan mỉm cười, "ngài chắc chắn sẽ nhận được phần thưởng hậu hĩnh từ Đức Hồng y."
"Ngài Bá tước sẽ diện kiến ngài ấy khi trở về chứ?"
"Không còn nghi ngờ gì nữa."
"Vậy tôi xin ngài, hãy bẩm báo lại với Đức ngài rằng tôi luôn là bề tôi trung thành và thấp hèn của ngài ấy."
"Tôi nhất định sẽ không quên."
Hài lòng với lời hứa hẹn, viên Thống đốc ký xác nhận vào tờ giấy thông hành rồi cẩn trọng trao lại cho D'Artagnan. Không để mất thêm thời giờ vào những lời tâng bốc sáo rỗng, anh ngỏ lời cảm ơn, cúi chào rồi quay lưng bước đi. Vừa ra khỏi dinh thự, anh cùng Planchet co giò chạy như bay. Hai người chọn một lối đi vòng thật xa, tránh khu rừng nọ để tiến vào thành phố bằng một cánh cổng khác.
Con tàu đã hoàn tất việc chuẩn bị nhổ neo, viên thuyền trưởng vẫn đang đứng đợi sẵn trên cầu cảng. "Mọi việc sao rồi?" ông ta cất tiếng khi nhận ra D'Artagnan.
"Giấy thông hành của tôi đã được xác nhận," anh đáp.
"Thế còn vị quý tộc kia đâu?"
"Hôm nay ông ta không đi nữa," D'Artagnan dửng dưng. "Nhưng đây, tôi sẽ trả luôn cả phần tiền vé của ông ta."
"Nếu vậy thì ta đi thôi," viên thuyền trưởng giục.
"Ta đi thôi," D'Artagnan gật đầu phụ họa.
Anh cùng Planchet thoăn thoắt nhảy lên thuyền con, và chỉ năm phút sau cả hai đã đặt chân lên boong tàu lớn. Thật vừa kịp lúc, bởi khi tàu mới rẽ sóng được chừng nửa dặm, D'Artagnan chợt lóe thấy một tia chớp và liền sau đó là tiếng nổ rền vang. Đó chính là phát đại bác báo hiệu bến cảng đã chính thức đóng cửa.
Lúc này anh mới có chút thời gian rảnh rỗi để kiểm tra vết thương. May mắn thay, đúng như D'Artagnan dự đoán, nó không hề đe dọa đến tính mạng. Mũi kiếm chỉ đâm sượt qua một dẻ xương sườn rồi trượt dài theo bề mặt xương. Hơn nữa, lớp áo sơ mi đã dính chặt vào miệng vết thương, giúp anh không bị mất quá nhiều máu.
D'Artagnan đã hoàn toàn kiệt sức. Người ta trải một tấm nệm trên boong tàu cho anh. Chàng lính ngự lâm thả mình nằm xuống, và lập tức chìm vào giấc ngủ say.
Vào sáng hôm sau, khi bình minh vừa ló rạng, họ chỉ còn cách bờ biển nước Anh chừng ba, bốn dặm. Suốt đêm qua gió quá đỗi nhẹ nhàng nên con tàu nhích đi chẳng được bao xa. Mãi đến mười giờ, tàu mới thả neo tại bến cảng Dover, và đến mười rưỡi, D'Artagnan cuối cùng cũng đặt chân lên đất Anh. Chàng mừng rỡ thốt lên: "Cuối cùng thì tôi cũng đến nơi rồi!"
Nhưng đó vẫn chưa phải là đích đến cuối cùng; họ còn phải tới London. Ở nước Anh, hệ thống ngựa trạm bưu điện6 hoạt động vô cùng xuất sắc. D'Artagnan và Planchet mỗi người nhận một con ngựa trạm, cùng một người xà ích cưỡi ngựa dẫn đường phía trước. Chỉ vài giờ sau, họ đã có mặt tại thủ đô sầm uất.
D'Artagnan chẳng hề quen thuộc với London, cũng chẳng biết lấy một chữ tiếng Anh bẻ đôi. Tuy nhiên, chàng đã cẩn thận ghi tên Buckingham lên một mảnh giấy, và nhờ đó, người dân đã chỉ cho chàng đường đến tận dinh thự của ngài Công tước.
Lúc bấy giờ, Công tước đang đi săn cùng nhà vua tại Windsor7. D'Artagnan dò hỏi và tìm được người hầu thân tín của Công tước - người luôn tháp tùng ngài trong mọi chuyến đi và nói tiếng Pháp trôi chảy lạ thường. Chàng dõng dạc bảo ông ta rằng mình đến từ Paris vì một vụ việc hệ trọng liên quan đến mạng người, và bắt buộc phải gặp chủ nhân của ông ngay lập tức.
Chính sự quả quyết toát ra từ giọng nói của D'Artagnan đã hoàn toàn thuyết phục được Patrick - tên người hầu cận của vị bộ trưởng. Ông lập tức ra lệnh chuẩn bị hai con ngựa đã thắng yên cương, và tự mình làm người dẫn đường cho chàng lính ngự lâm trẻ tuổi. Về phần Planchet, cậu hầu tội nghiệp đã kiệt sức đến mức người ta phải xốc nách cậu xuống khỏi lưng ngựa, thân hình cứng đờ như một khúc gỗ. Ngược lại, D'Artagnan dường như được đúc bằng sắt thép.
Khi đến lâu đài, họ được biết Buckingham và nhà vua đang ráo riết đi săn bằng chim ưng tại vùng đầm lầy cách đó vài dặm. Chỉ chừng hai mươi phút sau, họ đã có mặt tại địa điểm được chỉ dẫn. Chẳng bao lâu, Patrick đã nghe thấy tiếng chủ nhân văng vẳng gọi chim ưng.
"Tôi phải bẩm báo thế nào với Đức ngài Công tước đây?" Patrick lên tiếng hỏi.
"Hãy bảo rằng, đó là chàng thanh niên đã từng gây sự với ngài vào một buổi tối trên cây cầu Pont Neuf, ngay đối diện nhà máy bơm nước Samaritaine8."
"Một lời giới thiệu thật kỳ lạ làm sao!"
"Rồi ông sẽ thấy lời giới thiệu ấy hiệu nghiệm chẳng kém bất cứ lời nào khác đâu."
Patrick thúc ngựa lao đi, tiến đến chỗ Công tước và bẩm báo y như lời đã dặn, rằng có một người đưa tin đang chờ ngài.
Buckingham lập tức nhớ lại câu chuyện đêm ấy. Ngài linh cảm có chuyện chẳng lành đang bủa vây nước Pháp mà mình cần phải tường tận. Không để lãng phí phút giây nào, ngài chỉ kịp hỏi xem người đưa tin đang ở đâu. Vừa thoáng thấy bộ đồng phục Lính ngự lâm từ xa, ngài liền vội vã thúc ngựa phi nước đại, lao thẳng đến chỗ D'Artagnan. Patrick thì ý tứ lùi lại phía sau.
"Không có bất hạnh nào xảy đến với hoàng hậu chứ?" Vừa đến gần, Buckingham đã hốt hoảng thốt lên, dồn tất thảy nỗi sợ hãi và tình yêu mãnh liệt vào câu hỏi.
"Tôi tin là không; tuy nhiên, tôi e rằng bà ấy đang vướng vào một mối nguy hiểm khôn lường mà chỉ có Đức ngài mới đủ sức giải nguy."
"Ta sao!" Buckingham kinh ngạc kêu lên. "Chuyện gì vậy? Ta sẽ vô cùng hạnh phúc nếu có thể phục vụ bà ấy. Nói đi, cậu hãy nói mau đi!"
"Xin ngài hãy cầm lấy bức thư này," D'Artagnan đáp lời.
"Bức thư này! Bức thư này do ai gửi?"
"Từ Bệ hạ, theo như tôi đoán."
"Từ Bệ hạ!" Buckingham lắp bắp, gương mặt ngài tái nhợt đi, đến mức D'Artagnan phải lo sợ ngài sẽ ngất lịm ngay khi bóc niêm phong.
"Vết rách này là sao?" Công tước hỏi, chỉ cho D'Artagnan thấy một lỗ thủng xuyên qua phong thư.
"A," D'Artagnan điềm nhiên đáp, "tôi không để ý thấy nó; hẳn là thanh kiếm của Bá tước de Wardes đã đâm thủng lỗ đó, khi ông ta đâm tôi một nhát chí mạng vào ngực."
"Cậu bị thương sao?" Buckingham hoảng hốt, tay vẫn thoăn thoắt mở nếp gấp thư.
"Ồ, không có gì đáng bận tâm đâu, chỉ là một vết xước thôi," D'Artagnan bình thản xua tay.
"Trời cao có thấu, ta vừa đọc cái gì thế này?" ngài Công tước bàng hoàng kêu lên. "Patrick, hãy ở lại đây, hoặc đúng hơn là hãy đi tìm nhà vua, dù ngài ở đâu, và tâu với Bệ hạ rằng ta khiêm nhường cầu xin ngài thứ lỗi, nhưng một việc vô cùng hệ trọng đã gọi ta về London. Đi nào, thưa ngài, đi thôi!" Nói đoạn, cả hai người lập tức thúc ngựa lao vút về phía thủ đô với tốc độ kinh hồn.
-
Một cổng thành và trạm thu thuế nằm ở phía bắc thủ đô Paris thế kỷ 17, được xây dựng để kiểm soát hàng hóa và người ra vào thành phố. ↩
-
Một điển tích nổi tiếng trong Công giáo về Thánh Martin thành Tours. Theo truyền thuyết, khi còn là lính La Mã, ngài đã dùng gươm cắt đôi chiếc áo choàng của mình để giữ ấm cho một người ăn mày chết rét giữa mùa đông. ↩
-
Loại súng nòng trơn nạp đạn từ miệng nòng, sử dụng dây cháy chậm (mồi lửa) để châm ngòi thuốc súng. Đây là vũ khí bộ binh phổ biến nhất của quân đội châu Âu thế kỷ 17. ↩
-
Người dân xuất thân từ vùng Picardy, một tỉnh lịch sử ở miền Bắc nước Pháp. Planchet đang tự hào nhắc đến nguồn gốc quê hương mình. ↩
-
Người dân vùng Normandy ở Tây Bắc nước Pháp, trong văn hóa dân gian thường bị gán với định kiến là có tính cách bướng bỉnh, cứng đầu và đa nghi. ↩
-
Hệ thống các trạm trung chuyển được bố trí dọc đường, nơi lữ khách hoặc người đưa thư có thể thuê và đổi ngựa mới để tiếp tục hành trình với tốc độ cao mà không phải dừng lại cho ngựa nghỉ ngơi. ↩
-
Lâu đài Windsor, một trong những nơi ở chính thức của Hoàng gia Anh, nằm ở ngoại ô London và được bao quanh bởi những khu rừng săn bắn rộng lớn. ↩
-
Một trạm bơm nước lịch sử được xây dựng trên cầu Pont Neuf ở Paris để cấp nước cho cung điện. Tên gọi xuất phát từ bức phù điêu khắc họa câu chuyện Chúa Jesus xin nước một người phụ nữ Samari. ↩
Chapter XX. THE JOURNEY
At two o’clock in the morning, our four adventurers left Paris by the Barrière St. Denis. As long as it was dark they remained silent; in spite of themselves they submitted to the influence of the obscurity, and apprehended ambushes on every side.
With the first rays of day their tongues were loosened; with the sun gaiety revived. It was like the eve of a battle; the heart beat, the eyes laughed, and they felt that the life they were perhaps going to lose, was, after all, a good thing.
Besides, the appearance of the caravan was formidable. The black horses of the Musketeers, their martial carriage, with the regimental step of these noble companions of the soldier, would have betrayed the most strict incognito. The lackeys followed, armed to the teeth.
All went well till they arrived at Chantilly, which they reached about eight o’clock in the morning. They needed breakfast, and alighted at the door of an auberge, recommended by a sign representing St. Martin giving half his cloak to a poor man. They ordered the lackeys not to unsaddle the horses, and to hold themselves in readiness to set off again immediately.
They entered the common hall, and placed themselves at table. A gentleman, who had just arrived by the route of Dammartin, was seated at the same table, and was breakfasting. He opened the conversation about rain and fine weather; the travelers replied. He drank to their good health, and the travelers returned his politeness.
But at the moment Mousqueton came to announce that the horses were ready, and they were arising from table, the stranger proposed to Porthos to drink the health of the cardinal. Porthos replied that he asked no better if the stranger, in his turn, would drink the health of the king. The stranger cried that he acknowledged no other king but his Eminence. Porthos called him drunk, and the stranger drew his sword.
“You have committed a piece of folly,” said Athos, “but it can’t be helped; there is no drawing back. Kill the fellow, and rejoin us as soon as you can.”
All three remounted their horses, and set out at a good pace, while Porthos was promising his adversary to perforate him with all the thrusts known in the fencing schools.
“There goes one!” cried Athos, at the end of five hundred paces.
“But why did that man attack Porthos rather than any other one of us?” asked Aramis.
“Because, as Porthos was talking louder than the rest of us, he took him for the chief,” said D’Artagnan.
“I always said that this cadet from Gascony was a well of wisdom,” murmured Athos; and the travelers continued their route.
At Beauvais they stopped two hours, as well to breathe their horses a little as to wait for Porthos. At the end of two hours, as Porthos did not come, not any news of him, they resumed their journey.
At a league from Beauvais, where the road was confined between two high banks, they fell in with eight or ten men who, taking advantage of the road being unpaved in this spot, appeared to be employed in digging holes and filling up the ruts with mud.
Aramis, not liking to soil his boots with this artificial mortar, apostrophized them rather sharply. Athos wished to restrain him, but it was too late. The laborers began to jeer the travelers and by their insolence disturbed the equanimity even of the cool Athos, who urged on his horse against one of them.
Then each of these men retreated as far as the ditch, from which each took a concealed musket; the result was that our seven travelers were outnumbered in weapons. Aramis received a ball which passed through his shoulder, and Mousqueton another ball which lodged in the fleshy part which prolongs the lower portion of the loins. Therefore Mousqueton alone fell from his horse, not because he was severely wounded, but not being able to see the wound, he judged it to be more serious than it really was.
“It was an ambuscade!” shouted D’Artagnan. “Don’t waste a charge! Forward!”
Aramis, wounded as he was, seized the mane of his horse, which carried him on with the others. Mousqueton’s horse rejoined them, and galloped by the side of his companions.
“That will serve us for a relay,” said Athos.
“I would rather have had a hat,” said D’Artagnan. “Mine was carried away by a ball. By my faith, it is very fortunate that the letter was not in it.”
“They’ll kill poor Porthos when he comes up,” said Aramis.
“If Porthos were on his legs, he would have rejoined us by this time,” said Athos. “My opinion is that on the ground the drunken man was not intoxicated.”
They continued at their best speed for two hours, although the horses were so fatigued that it was to be feared they would soon refuse service.
The travelers had chosen crossroads in the hope that they might meet with less interruption; but at Crèvecœur, Aramis declared he could proceed no farther. In fact, it required all the courage which he concealed beneath his elegant form and polished manners to bear him so far. He grew more pale every minute, and they were obliged to support him on his horse. They lifted him off at the door of a cabaret, left Bazin with him, who, besides, in a skirmish was more embarrassing than useful, and set forward again in the hope of sleeping at Amiens.
“Morbleu,” said Athos, as soon as they were again in motion, “reduced to two masters and Grimaud and Planchet! Morbleu! I won’t be their dupe, I will answer for it. I will neither open my mouth nor draw my sword between this and Calais. I swear by-”
“Don’t waste time in swearing,” said D’Artagnan; “let us gallop, if our horses will consent.”
And the travelers buried their rowels in their horses’ flanks, who thus vigorously stimulated recovered their energies. They arrived at Amiens at midnight, and alighted at the auberge of the Golden Lily.
The host had the appearance of as honest a man as any on earth. He received the travelers with his candlestick in one hand and his cotton nightcap in the other. He wished to lodge the two travelers each in a charming chamber; but unfortunately these charming chambers were at the opposite extremities of the hôtel. D’Artagnan and Athos refused them. The host replied that he had no other worthy of their Excellencies; but the travelers declared they would sleep in the common chamber, each on a mattress which might be thrown upon the ground. The host insisted; but the travelers were firm, and he was obliged to do as they wished.
They had just prepared their beds and barricaded their door within, when someone knocked at the yard shutter; they demanded who was there, and recognizing the voices of their lackeys, opened the shutter. It was indeed Planchet and Grimaud.
“Grimaud can take care of the horses,” said Planchet. “If you are willing, gentlemen, I will sleep across your doorway, and you will then be certain that nobody can reach you.”
“And on what will you sleep?” said D’Artagnan.
“Here is my bed,” replied Planchet, producing a bundle of straw.
“Come, then,” said D’Artagnan, “you are right. Mine host’s face does not please me at all; it is too gracious.”
“Nor me either,” said Athos.
Planchet mounted by the window and installed himself across the doorway, while Grimaud went and shut himself up in the stable, undertaking that by five o’clock in the morning he and the four horses should be ready.
The night was quiet enough. Toward two o’clock in the morning somebody endeavored to open the door; but as Planchet awoke in an instant and cried, “Who goes there?” somebody replied that he was mistaken, and went away.
At four o’clock in the morning they heard a terrible riot in the stables. Grimaud had tried to waken the stable boys, and the stable boys had beaten him. When they opened the window, they saw the poor lad lying senseless, with his head split by a blow with a pitchfork.
Planchet went down into the yard, and wished to saddle the horses; but the horses were all used up. Mousqueton’s horse which had traveled for five or six hours without a rider the day before, might have been able to pursue the journey; but by an inconceivable error the veterinary surgeon, who had been sent for, as it appeared, to bleed one of the host’s horses, had bled Mousqueton’s.
This began to be annoying. All these successive accidents were perhaps the result of chance; but they might be the fruits of a plot. Athos and D’Artagnan went out, while Planchet was sent to inquire if there were not three horses for sale in the neighborhood. At the door stood two horses, fresh, strong, and fully equipped. These would just have suited them. He asked where their masters were, and was informed that they had passed the night in the inn, and were then settling their bill with the host.
Athos went down to pay the reckoning, while D’Artagnan and Planchet stood at the street door. The host was in a lower and back room, to which Athos was requested to go.
Athos entered without the least mistrust, and took out two pistoles to pay the bill. The host was alone, seated before his desk, one of the drawers of which was partly open. He took the money which Athos offered to him, and after turning and turning it over and over in his hands, suddenly cried out that it was bad, and that he would have him and his companions arrested as forgers.
“You blackguard!” cried Athos, going toward him, “I’ll cut your ears off!”
At the same instant, four men, armed to the teeth, entered by side doors, and rushed upon Athos.
“I am taken!” shouted Athos, with all the power of his lungs. “Go on, D’Artagnan! Spur, spur!” and he fired two pistols.
D’Artagnan and Planchet did not require twice bidding; they unfastened the two horses that were waiting at the door, leaped upon them, buried their spurs in their sides, and set off at full gallop.
“Do you know what has become of Athos?” asked D’Artagnan of Planchet, as they galloped on.
“Ah, monsieur,” said Planchet, “I saw one fall at each of his two shots, and he appeared to me, through the glass door, to be fighting with his sword with the others.”
“Brave Athos!” murmured D’Artagnan, “and to think that we are compelled to leave him; maybe the same fate awaits us two paces hence. Forward, Planchet, forward! You are a brave fellow.”
“As I told you, monsieur,” replied Planchet, “Picards are found out by being used. Besides, I am here in my own country, and that excites me.”
And both, with free use of the spur, arrived at St. Omer without drawing bit. At St. Omer they breathed their horses with the bridles passed under their arms for fear of accident, and ate a morsel from their hands on the stones of the street, after they departed again.
At a hundred paces from the gates of Calais, D’Artagnan’s horse gave out, and could not by any means be made to get up again, the blood flowing from his eyes and his nose. There still remained Planchet’s horse; but he stopped short, and could not be made to move a step.
Fortunately, as we have said, they were within a hundred paces of the city; they left their two nags upon the high road, and ran toward the quay. Planchet called his master’s attention to a gentleman who had just arrived with his lackey, and only preceded them by about fifty paces. They made all speed to come up to this gentleman, who appeared to be in great haste. His boots were covered with dust, and he inquired if he could not instantly cross over to England.
“Nothing would be more easy,” said the captain of a vessel ready to set sail, “but this morning came an order to let no one leave without express permission from the cardinal.”
“I have that permission,” said the gentleman, drawing the paper from his pocket; “here it is.”
“Have it examined by the governor of the port,” said the shipmaster, “and give me the preference.”
“Where shall I find the governor?”
“At his country house.”
“And that is situated?”
“At a quarter of a league from the city. Look, you may see it from here-at the foot of that little hill, that slated roof.”
“Very well,” said the gentleman. And, with his lackey, he took the road to the governor’s country house.
D’Artagnan and Planchet followed the gentleman at a distance of five hundred paces. Once outside the city, D’Artagnan overtook the gentleman as he was entering a little wood.
“Monsieur, you appear to be in great haste?”
“No one can be more so, monsieur.”
“I am sorry for that,” said D’Artagnan; “for as I am in great haste likewise, I wish to beg you to render me a service.”
“What?”
“To let me sail first.”
“That’s impossible,” said the gentleman; “I have traveled sixty leagues in forty hours, and by tomorrow at midday I must be in London.”
“I have performed that same distance in forty hours, and by ten o’clock in the morning I must be in London.”
“Very sorry, monsieur; but I was here first, and will not sail second.”
“I am sorry, too, monsieur; but I arrived second, and must sail first.”
“The king’s service!” said the gentleman.
“My own service!” said D’Artagnan.
“But this is a needless quarrel you seek with me, as it seems to me.”
“Parbleu! What do you desire it to be?”
“What do you want?”
“Would you like to know?”
“Certainly.”
“Well, then, I wish that order of which you are bearer, seeing that I have not one of my own and must have one.”
“You jest, I presume.”
“I never jest.”
“Let me pass!”
“You shall not pass.”
“My brave young man, I will blow out your brains. Hola, Lubin, my pistols!”
“Planchet,” called out D’Artagnan, “take care of the lackey; I will manage the master.”
Planchet, emboldened by the first exploit, sprang upon Lubin; and being strong and vigorous, he soon got him on the broad of his back, and placed his knee upon his breast.
“Go on with your affair, monsieur,” cried Planchet; “I have finished mine.”
Seeing this, the gentleman drew his sword, and sprang upon D’Artagnan; but he had too strong an adversary. In three seconds D’Artagnan had wounded him three times, exclaiming at each thrust, “One for Athos, one for Porthos; and one for Aramis!”
At the third hit the gentleman fell like a log. D’Artagnan believed him to be dead, or at least insensible, and went toward him for the purpose of taking the order; but the moment he extended his hand to search for it, the wounded man, who had not dropped his sword, plunged the point into D’Artagnan’s breast, crying, “One for you!”
“And one for me-the best for last!” cried D’Artagnan, furious, nailing him to the earth with a fourth thrust through his body.
This time the gentleman closed his eyes and fainted. D’Artagnan searched his pockets, and took from one of them the order for the passage. It was in the name of Comte de Wardes.
Then, casting a glance on the handsome young man, who was scarcely twenty-five years of age, and whom he was leaving in his gore, deprived of sense and perhaps dead, he gave a sigh for that unaccountable destiny which leads men to destroy each other for the interests of people who are strangers to them and who often do not even know that they exist. But he was soon aroused from these reflections by Lubin, who uttered loud cries and screamed for help with all his might.
Planchet grasped him by the throat, and pressed as hard as he could. “Monsieur,” said he, “as long as I hold him in this manner, he can’t cry, I’ll be bound; but as soon as I let go he will howl again. I know him for a Norman, and Normans are obstinate.”
In fact, tightly held as he was, Lubin endeavored still to cry out.
“Stay!” said D’Artagnan; and taking out his handkerchief, he gagged him.
“Now,” said Planchet, “let us bind him to a tree.”
This being properly done, they drew the Comte de Wardes close to his servant; and as night was approaching, and as the wounded man and the bound man were at some little distance within the wood, it was evident they were likely to remain there till the next day.
“And now,” said D’Artagnan, “to the Governor’s.”
“But you are wounded, it seems,” said Planchet.
“Oh, that’s nothing! Let us attend to what is more pressing first, and then we will attend to my wound; besides, it does not seem very dangerous.”
And they both set forward as fast as they could toward the country house of the worthy functionary.
The Comte de Wardes was announced, and D’Artagnan was introduced.
“You have an order signed by the cardinal?” said the governor.
“Yes, monsieur,” replied D’Artagnan; “here it is.”
“Ah, ah! It is quite regular and explicit,” said the governor.
“Most likely,” said D’Artagnan; “I am one of his most faithful servants.”
“It appears that his Eminence is anxious to prevent someone from crossing to England?”
“Yes; a certain D’Artagnan, a Béarnese gentleman who left Paris in company with three of his friends, with the intention of going to London.”
“Do you know him personally?” asked the governor.
“Whom?”
“This D’Artagnan.”
“Perfectly well.”
“Describe him to me, then.”
“Nothing more easy.”
And D’Artagnan gave, feature for feature, a description of the Comte de Wardes.
“Is he accompanied?”
“Yes; by a lackey named Lubin.”
“We will keep a sharp lookout for them; and if we lay hands on them his Eminence may be assured they will be reconducted to Paris under a good escort.”
“And by doing so, Monsieur the Governor,” said D’Artagnan, “you will deserve well of the cardinal.”
“Shall you see him on your return, Monsieur Count?”
“Without a doubt.”
“Tell him, I beg you, that I am his humble servant.”
“I will not fail.”
Delighted with this assurance the governor countersigned the passport and delivered it to D’Artagnan. D’Artagnan lost no time in useless compliments. He thanked the governor, bowed, and departed. Once outside, he and Planchet set off as fast as they could; and by making a long detour avoided the wood and reentered the city by another gate.
The vessel was quite ready to sail, and the captain was waiting on the wharf. “Well?” said he, on perceiving D’Artagnan.
“Here is my pass countersigned,” said the latter.
“And that other gentleman?
“He will not go today,” said D’Artagnan; “but here, I’ll pay you for us two.”
“In that case let us go,” said the shipmaster.
“Let us go,” repeated D’Artagnan.
He leaped with Planchet into the boat, and five minutes after they were on board. It was time; for they had scarcely sailed half a league, when D’Artagnan saw a flash and heard a detonation. It was the cannon which announced the closing of the port.
He had now leisure to look to his wound. Fortunately, as D’Artagnan had thought, it was not dangerous. The point of the sword had touched a rib, and glanced along the bone. Still further, his shirt had stuck to the wound, and he had lost only a few drops of blood.
D’Artagnan was worn out with fatigue. A mattress was laid upon the deck for him. He threw himself upon it, and fell asleep.
On the morrow, at break of day, they were still three or four leagues from the coast of England. The breeze had been so light all night, they had made but little progress. At ten o’clock the vessel cast anchor in the harbor of Dover, and at half past ten D’Artagnan placed his foot on English land, crying, “Here I am at last!”
But that was not all; they must get to London. In England the post was well served. D’Artagnan and Planchet took each a post horse, and a postillion rode before them. In a few hours they were in the capital.
D’Artagnan did not know London; he did not know a word of English; but he wrote the name of Buckingham on a piece of paper, and everyone pointed out to him the way to the duke’s hôtel.
The duke was at Windsor hunting with the king. D’Artagnan inquired for the confidential valet of the duke, who, having accompanied him in all his voyages, spoke French perfectly well; he told him that he came from Paris on an affair of life and death, and that he must speak with his master instantly.
The confidence with which D’Artagnan spoke convinced Patrick, which was the name of this minister of the minister. He ordered two horses to be saddled, and himself went as guide to the young Guardsman. As for Planchet, he had been lifted from his horse as stiff as a rush; the poor lad’s strength was almost exhausted. D’Artagnan seemed iron.
On their arrival at the castle they learned that Buckingham and the king were hawking in the marshes two or three leagues away. In twenty minutes they were on the spot named. Patrick soon caught the sound of his master’s voice calling his falcon.
“Whom must I announce to my Lord Duke?” asked Patrick.
“The young man who one evening sought a quarrel with him on the Pont Neuf, opposite the Samaritaine.”
“A singular introduction!”
“You will find that it is as good as another.”
Patrick galloped off, reached the duke, and announced to him in the terms directed that a messenger awaited him.
Buckingham at once remembered the circumstance, and suspecting that something was going on in France of which it was necessary he should be informed, he only took the time to inquire where the messenger was, and recognizing from afar the uniform of the Guards, he put his horse into a gallop, and rode straight up to D’Artagnan. Patrick discreetly kept in the background.
“No misfortune has happened to the queen?” cried Buckingham, the instant he came up, throwing all his fear and love into the question.
“I believe not; nevertheless I believe she runs some great peril from which your Grace alone can extricate her.”
“I!” cried Buckingham. “What is it? I should be too happy to be of any service to her. Speak, speak!”
“Take this letter,” said D’Artagnan.
“This letter! From whom comes this letter?”
“From her Majesty, as I think.”
“From her Majesty!” said Buckingham, becoming so pale that D’Artagnan feared he would faint as he broke the seal.
“What is this rent?” said he, showing D’Artagnan a place where it had been pierced through.
“Ah,” said D’Artagnan, “I did not see that; it was the sword of the Comte de Wardes which made that hole, when he gave me a good thrust in the breast.”
“You are wounded?” asked Buckingham, as he opened the letter.
“Oh, nothing but a scratch,” said D’Artagnan.
“Just heaven, what have I read?” cried the duke. “Patrick, remain here, or rather join the king, wherever he may be, and tell his Majesty that I humbly beg him to excuse me, but an affair of the greatest importance recalls me to London. Come, monsieur, come!” and both set off towards the capital at full gallop.