Chương LXVII. KẾT THÚC

Ngày mùng sáu tháng sau, đức vua giữ đúng lời hứa với Đức Hồng y khi khởi giá về lại La Rochelle. Ngài rời thủ đô giữa lúc nơi đây vẫn còn đang chấn động trước những tin tức đầu tiên lan truyền về vụ ám sát Buckingham.

Dẫu đã được mật báo từ trước rằng người đàn ông mình thiết tha yêu dấu đang kề cận hiểm nguy, hoàng hậu vẫn bàng hoàng tột độ khi nhận được hung tin. Quá đỗi bẽ bàng, bà không chịu tin đó là sự thật và thậm chí còn hớ hênh thốt lên đầy tuyệt vọng: "Không thể nào! Ông ấy vừa mới viết thư cho ta!"

Nhưng rồi đến hôm sau, bà buộc lòng phải đối mặt với thực tại nghiệt ngã. Laporte, người trước đó bị kẹt lại ở Anh như bao người khác theo lệnh của vua Charles I, cuối cùng đã về đến nơi. Ông mang theo kỷ vật tuyệt mệnh mà vị công tước gửi gắm lại cho hoàng hậu.

Trái ngược với nỗi đau của vợ, sự hân hoan của nhà vua hiện rõ mồn một. Ngài chẳng buồn che đậy, thậm chí còn cố tình phô bày nét đắc ý ấy ngay trước mặt bà. Louis XIII, hệt như bao kẻ mang tâm hồn yếu đuối khác, luôn thiếu đi sự khoan dung và nét cao thượng.

Thế nhưng, cũng chẳng được bao lâu, nhà vua lại rơi vào trạng thái ủ rũ và cáu kỉnh; vầng trán ngài vốn chẳng phải nơi có thể níu giữ vẻ quang đãng lâu dài. Ngài lờ mờ cảm nhận được rằng, một khi quay lại doanh trại, ngài sẽ lại tự mình bước vào vòng kiềm tỏa nô lệ; dẫu vậy, ngài vẫn phải quay về.

Trong mắt ngài, Đức Hồng y mang một sức mạnh thôi miên hệt như một con rắn độc, còn bản thân ngài chỉ là chú chim nhỏ nhảy chuyền từ cành này sang cành khác mà chẳng đủ sức vỗ cánh bay xa.

Bởi thế, chặng đường trở về La Rochelle trôi qua tẻ nhạt vô cùng. Riêng bốn người bạn của chúng ta lại khiến các đồng đội đi cùng không khỏi ngạc nhiên. Họ luôn bám sát lấy nhau, kề vai sát cánh, nhưng ánh mắt lúc nào cũng trĩu nặng ưu tư và khuôn mặt thì cúi gầm. Chỉ đôi khi Athos mới chịu ngẩng vầng trán rộng lên; một tia sáng xẹt qua trong đáy mắt, kéo theo nụ cười cay đắng thoáng nở trên môi. Rồi, cũng như những người anh em của mình, anh lại chìm sâu vào cõi mông lung trầm mặc.

Cứ mỗi khi đoàn tùy tùng dừng chân tại một thành phố mới, ngay sau khoảnh khắc hộ tống nhà vua về nơi nghỉ ngơi an toàn, bốn người bạn liền lập tức lui về phòng riêng, hoặc tìm đến một quán rượu hẻo lánh nào đó. Tại đấy, họ chẳng buồn động tới một giọt rượu hay màng đến chuyện vui chơi; họ chỉ ghé sát vào nhau thì thầm to nhỏ, thi thoảng lại đưa mắt cảnh giác nhìn quanh để đoan chắc rằng không có kẻ nào đang lén lút nghe trộm.

Một ngày nọ, khi nhà vua dừng ngựa để săn chim khách, bốn người bạn theo thói quen quen thuộc, thay vì tham gia cuộc săn, lại ghé vào một quán rượu ven đường. Ngay lúc đó, một gã đàn ông cưỡi ngựa từ hướng La Rochelle đi tới, dừng trước cửa gọi một ly rượu. Gã phóng ánh mắt dò xét vào căn phòng nơi bốn chàng ngự lâm quân đang ngồi nghỉ.

"Này, anh D'Artagnan!" gã cất tiếng, "có phải anh đang ở đằng kia không?"

D'Artagnan ngẩng phắt đầu lên và bật ra một tiếng kêu đầy phấn khích. Đó chính là người đàn ông mà cậu vẫn gọi là bóng ma đời mình; chính là kẻ lạ mặt từng chạm trán ở Meung, ở phố Rue des Fossoyeurs và cả ở Arras.

Không chần chừ, D'Artagnan tuốt gươm khỏi vỏ, lao thẳng ra phía cửa.

Nhưng lần này, thay vì lẩn tránh, kẻ lạ mặt nhảy phắt xuống ngựa và ung dung bước tới đón đầu chàng thanh niên.

"À, ngài đây rồi!" D'Artagnan gầm lên, "cuối cùng tôi cũng tóm được ngài! Lần này thì ngài đừng hòng thoát khỏi tay tôi!"

"Đó cũng không phải là ý định của tôi đâu, thưa anh," người kia điềm nhiên đáp, "bởi lẽ lần này, chính tôi đang đi tìm anh. Nhân danh nhà vua, tôi bắt anh."

"Sao cơ! Ngài nói cái gì?" D'Artagnan sửng sốt kêu lên.

"Tôi nói rằng anh phải giao nộp kiếm cho tôi, thưa anh, và đừng hòng chống cự. Việc này liên quan đến cái đầu của anh đấy, tôi xin cảnh báo trước."

"Thế rốt cuộc ngài là ai?" D'Artagnan gặng hỏi, mũi kiếm hạ xuống nhưng tay vẫn nắm chặt chuôi, chưa chịu buông vũ khí.

"Tôi là Hiệp sĩ Rochefort," kẻ đó xưng danh, "quan cận vệ của Đức Hồng y Richelieu. Tôi mang lệnh áp giải anh đến trình diện Đức ngài."

"Chúng tôi cũng đang trên đường trở lại yết kiến Đức ngài đây, thưa Hiệp sĩ," Athos bước tới, trầm giọng lên tiếng; "nên mong ngài hãy vui lòng chấp thuận lời hứa danh dự của anh D'Artagnan, rằng anh ấy sẽ đi thẳng tới La Rochelle."

"Tôi buộc phải giao anh ta cho đội lính gác để họ áp tải vào doanh trại."

"Chúng tôi sẽ đích thân làm lính gác cho anh ấy, thưa ngài, xin thề bằng danh dự của những nhà quý tộc; nhưng cũng xin thề bằng danh dự của những nhà quý tộc," Athos nói thêm, đôi mày nhíu lại đầy uy lực, "anh D'Artagnan sẽ không rời khỏi chúng tôi nửa bước."

Hiệp sĩ Rochefort đưa mắt nhìn ra phía sau, và thấy Porthos cùng Aramis đã án ngữ ngay giữa ông ta và cánh cổng từ lúc nào. Ông ta thừa hiểu mình đã hoàn toàn lọt vào vòng vây của bốn con người này.

"Thưa các vị," ông ta nhượng bộ, "nếu anh D'Artagnan chịu giao nộp kiếm cho tôi và hứa cùng đi với các vị, tôi đành bằng lòng với lời cam đoan của các vị, rằng sẽ đưa anh D'Artagnan tới chỗ Đức Hồng y."

"Ngài có lời hứa của tôi, thưa ngài, và đây là kiếm của tôi."

"Thế này lại càng tiện cho tôi," Rochefort nói, "bởi tôi còn phải tiếp tục cuộc hành trình."

"Nếu ngài định đi tìm Milady," Athos buông lời lạnh lẽo, "thì vô ích thôi; ngài sẽ chẳng bao giờ tìm thấy ả nữa đâu."

"Thế thì có chuyện gì xảy ra với cô ta?" Rochefort vội vã gặng hỏi.

"Cứ trở về doanh trại đi rồi ngài sẽ rõ."

Rochefort trầm ngâm giây lát; rồi dẫu sao họ cũng chỉ cách Surgères - nơi Đức Hồng y đang đón giá nhà vua - có một ngày đường, ông ta quyết định nghe theo lời khuyên của Athos và đồng hành cùng bốn người. Hơn nữa, việc quay lại ngay lúc này cũng giúp ông ta dễ dàng tự mình giám sát tù nhân.

Họ tiếp tục lên đường.

Ba giờ chiều hôm sau, cả đoàn đặt chân tới Surgères. Đức Hồng y đang túc trực đón vua Louis XIII tại đó. Vị tể tướng và nhà vua trao nhau vô vàn lời thân tình, chúc tụng nhau vì sự may mắn đã giúp nước Pháp nhổ bỏ được kẻ thù không đội trời chung, kẻ từng xúi giục cả châu Âu quay lưng lại với mẫu quốc. Sau đó, khi được cấp báo rằng D'Artagnan đã sa lưới và đang nóng lòng chờ diện kiến, Đức Hồng y liền xin phép nhà vua cáo lui, không quên cung kính mời bậc quân vương ngày mai ngự giá tới thị sát tiến độ công trình đê chắn sóng1.

Chiều tối hôm ấy, khi trở về nơi dừng chân tại cầu La Pierre, Đức Hồng y bắt gặp D'Artagnan, người không mang kiếm, đang đứng chờ trước cửa nhà cùng ba chàng ngự lâm quân võ trang đầy đủ.

Lần này, vì có đội lính hộ tống đông đảo theo hầu, ông nghiêm nghị ném cho họ một cái nhìn dò xét, rồi dùng cả ánh mắt lẫn cái vẫy tay ra hiệu cho D'Artagnan bước theo mình.

D'Artagnan tuân lệnh.

"Bọn này sẽ đợi cậu, D'Artagnan," Athos lên tiếng, cốt nói đủ lớn để Đức Hồng y nghe thấy.

Đức ngài cau mày. Ông khựng lại một nhịp, rồi tiếp tục sải bước mà chẳng buông lấy nửa lời.

D'Artagnan lặng lẽ nối gót Đức Hồng y. Cậu vừa bước qua, cánh cửa liền đóng sầm lại và lính tráng canh gác cẩn mật.

Bước vào gian phòng được cải tạo thành nơi làm việc, Đức ngài khẽ ra hiệu để Rochefort đưa chàng ngự lâm trẻ tuổi vào trong.

Rochefort tuân lệnh rồi cung kính lui ra.

D'Artagnan giờ đây chỉ còn lại một mình đối diện với Đức Hồng y. Đây mới là lần thứ hai cậu giáp mặt Richelieu, và mãi về sau, cậu mới dám thú nhận rằng vào giây phút ấy, cậu đã đinh ninh đó cũng là lần cuối cùng trong đời.

Richelieu vẫn đứng đó, vóc dáng uy nghi tựa lưng vào bệ lò sưởi. Giữa ông và D'Artagnan chỉ có độc một chiếc bàn.

"Anh kia," Đức Hồng y cất giọng, "anh bị bắt theo lệnh của ta."

"Người ta cũng báo với tôi như vậy, thưa Đức ngài."

"Anh có biết lý do không?"

"Không thưa ngài, bởi lẽ nguyên do duy nhất khiến tôi đáng bị bắt thì Đức ngài lại chưa hề hay biết."

Richelieu nhìn đăm đăm vào chàng thanh niên.

"Này!" ông gằn giọng, "câu đó nghĩa là sao?"

"Nếu Đức ngài rủ lòng thương cho tôi biết những tội danh mà người ta đang gán cho tôi, tôi sẽ thành thật bẩm báo những việc mình đã thực sự làm."

"Anh đang bị cáo buộc những tội tày đình, những tội danh từng khiến nhiều cái đầu cao quý hơn anh gấp bội phải rơi rụng đấy, anh bạn ạ," Đức Hồng y lạnh lùng nói.

"Những tội gì vậy, thưa Đức ngài?" D'Artagnan hỏi ngược lại, với một sự điềm tĩnh phi thường khiến chính ngài Hồng y cũng phải ngỡ ngàng.

"Anh bị cáo buộc tội thông đồng với kẻ thù của vương quốc. Anh bị cáo buộc tội thám thính những bí mật quốc gia. Và anh còn bị cáo buộc tội cố tình cản trở những kế hoạch của vị chủ tướng phe mình."

"Thế thì ai là kẻ đã cáo buộc tôi những chuyện tày trời đó, thưa Đức ngài?" D'Artagnan dõng dạc hỏi, bởi cậu chẳng chút mảy may nghi ngờ rằng những lời vu khống ấy được thốt ra từ miệng Milady. "Một người đàn bà đã bị công lý của đất nước bêu danh. Một người đàn bà đã có một đời chồng ở Pháp lại đi kết hôn với một người khác ở Anh. Một người đàn bà đã nhẫn tâm đầu độc người chồng thứ hai của mình, và đã không ít lần âm mưu ám sát tôi!"

"Anh nói cái gì cơ, anh kia?" Đức Hồng y kinh ngạc thốt lên, "Anh đang nói về người đàn bà nào vậy?"

"Về Milady de Winter," D'Artagnan đáp thẳng thừng. "Vâng, chính là Milady de Winter. Hẳn Đức ngài chẳng hề hay biết những tội ác tày trời của ả, nên ngài mới đặt niềm tin nơi ả."

"Này anh," Đức Hồng y nghiêm giọng, "nếu Milady de Winter thực sự phạm phải những tội ác như anh vừa cáo buộc, ả nhất định sẽ bị trừng trị."

"Ả đã bị trừng trị rồi, thưa Đức ngài."

"Và ai là người đã trừng trị cô ta?"

"Chúng tôi."

"Cô ta đang bị giam sao?"

"Ả đã chết rồi."

"Chết!" Đức Hồng y nhắc lại, dường như không thể tin nổi vào những gì tai mình vừa nghe. "Chết! Chẳng phải anh vừa bảo cô ta đã chết sao?"

"Ba lần ả rắp tâm đoạt mạng tôi, và cả ba lần tôi đều khoan dung tha thứ. Nhưng ả đã ra tay tàn sát người phụ nữ tôi yêu. Vì thế, tôi cùng những người bạn của mình đã săn lùng ả, đưa ả ra xét xử, và thi hành bản án."

D'Artagnan bắt đầu thuật lại tường tận vụ đầu độc bà Bonacieux tại tu viện dòng Carmelite ở Béthune, phiên tòa chớp nhoáng trong ngôi nhà hoang vắng, và buổi hành quyết nghiệt ngã bên bờ sông Lys.

Một cơn rùng mình lạnh lẽo chạy dọc cơ thể Đức Hồng y, người vốn nổi tiếng với tinh thần thép chẳng dễ gì lay chuyển.

Nhưng rồi, như thể vừa trút được một gánh nặng ngầm trong tâm trí, nét mặt u ám của Đức Hồng y dần bừng sáng, rồi lấy lại được vẻ điềm nhiên vốn có.

"Vậy ra," Đức Hồng y lên tiếng, giọng nói giờ đây không còn sự gay gắt như lúc trước, "các anh đã tự huyễn hoặc mình là những quan tòa, mà quên mất một điều rằng, kẻ tự tay trừng phạt người khác khi chưa được phép thì cũng chỉ là kẻ sát nhân sao?"

"Thưa Đức ngài, tôi xin thề với Đức ngài rằng chưa bao giờ, dù chỉ một giây phút, tôi có ý định bảo vệ cái đầu của mình trước ngài. Tôi cam tâm gánh chịu mọi hình phạt mà Đức ngài muốn giáng xuống. Mạng sống với tôi chẳng đáng giá đến mức khiến tôi phải sợ hãi cái chết."

"Ta biết cậu là một chàng trai dũng cảm, cậu ạ," Đức Hồng y ôn tồn nói, giọng điệu có phần ưu ái, "vậy nên ta có thể báo trước cho cậu hay, cậu sẽ bị đưa ra xét xử, và thậm chí sẽ lãnh án tử."

"Nếu là một kẻ khác, anh ta hẳn sẽ tự đắc khoe với Đức ngài rằng mình đang giắt trong túi một lệnh ân xá. Còn tôi, tôi chỉ thanh thản thưa rằng: Xin ngài cứ ra lệnh, thưa Đức ngài; tôi đã sẵn sàng."

"Lệnh ân xá của cậu ư?" Richelieu kinh ngạc.

"Vâng, thưa Đức ngài," D'Artagnan quả quyết.

"Do ai ký chứ - do nhà vua sao?" Đức Hồng y buông lời với một nụ cười khẩy đầy vẻ khinh miệt.

"Không, do chính tay Đức ngài."

"Do ta? Cậu điên rồi, cậu ạ."

"Chắc hẳn Đức ngài sẽ nhận ra nét chữ của chính mình."

Nói đoạn, D'Artagnan kính cẩn dâng lên Đức Hồng y mảnh giấy quý giá mà Athos đã ép Milady phải giao nộp, thứ mà anh đã trao cho D'Artagnan như một tấm bùa hộ mệnh.

Đức ngài đón lấy mảnh giấy, rồi cất giọng đọc thật chậm rãi, rành rọt từng tiếng một:

"Ngày 3 tháng 12 năm 1627.

"Theo lệnh của ta và vì lợi ích của quốc gia, người mang tờ giấy này đã làm những việc mình đã làm.

"RICHELIEU"

Đọc xong hai dòng chữ ngắn ngủi ấy, Đức Hồng y chìm sâu vào trầm mặc. Tuy nhiên, ông không hề có ý định trả lại tờ giấy cho D'Artagnan.

"Ngài ấy đang đắn đo xem nên xử tử mình bằng hình phạt nào đây," chàng trai xứ Gascony thầm nghĩ. "Chà, có hề hấn gì đâu! Ngài ấy rồi sẽ được chứng kiến một nhà quý tộc bước vào cõi chết oai phong lẫm liệt nhường nào."

Chàng ngự lâm trẻ tuổi đã sẵn sàng nghênh đón cái chết với một tâm thế đầy kiêu hãnh.

Richelieu vẫn mải miết chìm trong dòng suy tưởng, tay vân vê, vò nhẹ mép giấy.

Cuối cùng, ông ngẩng đầu lên. Ánh mắt sắc lạnh tựa chim ưng của ông xoáy sâu vào khuôn mặt cương nghị, cởi mở và thông minh trước mắt. Ông đọc được trên gương mặt từng nhuốm màu nước mắt ấy mọi nỗi truân chuyên, đau khổ mà chàng trai đã phải cắn răng chịu đựng suốt một tháng ròng. Một lần nữa, ông thầm đánh giá thực lực của chàng thanh niên hăm mốt tuổi này. Lòng can trường, sự tháo vát cùng bộ óc nhạy bén kia sẽ trở thành một món vũ khí sắc bén ra sao nếu được đặt dưới trướng một vị chủ nhân xứng tầm? Mặt khác, những mưu mô tàn độc, quyền lực vô hình cùng bản chất quỷ dữ của Milady đã không ít lần khiến chính ông phải sởn gai ốc. Dẫu không nói ra, ông vẫn cảm nhận được một niềm hân hoan thầm kín khi mãi mãi nhổ được cái gai trong mắt, vĩnh viễn rũ bỏ được một kẻ đồng lõa quá đỗi nguy hiểm.

Rất chậm rãi, Richelieu xé nát tờ giấy mà D'Artagnan đã hào hiệp dâng lên.

"Mình chết chắc rồi!" D'Artagnan cay đắng nghĩ thầm. Cậu gập người cúi chào Đức Hồng y, tựa như một con chiên ngoan đạo đang thì thầm, "Lạy Chúa, xin cho Thánh ý Ngài được nên!"

Đức Hồng y bước vội đến bàn. Chẳng màng ngồi xuống, ông phóng bút viết vài dòng lên một tấm giấy da đã phủ kín chữ đến hai phần ba, rồi cẩn thận đóng ấn triện của mình lên đó.

"Bản án của mình đây rồi," D'Artagnan nhủ thầm. "Ngài ấy muốn mình thoát khỏi nỗi phiền toái của ngục Bastille, hay sự rườm rà của một phiên tòa đây mà. Ngài ấy quả là khoan dung."

"Cầm lấy đi, cậu," Đức Hồng y tiến lại gần chàng thanh niên. "Ta đã lấy đi của cậu một tờ giấy trắng để đổi lại cho cậu một tờ giấy khác. Bức sắc phong này vẫn còn chừa trống tên; cậu có thể tự mình điền vào."

D'Artagnan rụt rè đón lấy tờ giấy, đưa mắt lướt nhanh. Đó là bức sắc phong bổ nhiệm chức phó uý trong đoàn Ngự lâm quân.

Cậu sụp xuống, phủ phục dưới chân Đức Hồng y.

"Thưa Đức ngài," cậu nghẹn ngào, "mạng sống của tôi thuộc về Đức ngài; từ nay ngài cứ việc định đoạt. Nhưng ân huệ cao cả ngài vừa ban, tôi thực sự không xứng đáng. Tôi có ba người bạn còn vĩ đại hơn, xứng đáng hơn tôi gấp vạn lần-"

"Cậu là một trượng phu quả cảm, D'Artagnan," Đức Hồng y dịu giọng ngắt lời, khẽ vỗ vai cậu một cách thân tình. Ông tận hưởng niềm vui chiến thắng khi thu phục được con ngựa bất kham này. "Hãy làm với bức sắc phong này bất cứ điều gì cậu muốn. Chỉ cần nhớ rằng, dù cái tên có bị bỏ trống, thì ta vẫn chính là người trao nó cho cậu."

"Tôi sẽ khắc cốt ghi tâm ân tình này," D'Artagnan xúc động đáp. "Đức ngài có thể hoàn toàn tin tưởng ở tôi."

Đức Hồng y quay gót, cất cao giọng: "Rochefort!" Chàng hiệp sĩ, người nãy giờ chắc hẳn vẫn túc trực bên ngoài cánh cửa, lập tức bước vào.

"Rochefort," Đức Hồng y dõng dạc nói, "ngài thấy anh D'Artagnan đây chứ. Ta vừa kết nạp cậu ấy vào hàng ngũ những người bạn của ta. Vậy thì hai người hãy chào nhau đi. Và hãy khôn hồn nếu các người muốn giữ lại cái đầu trên cổ mình."

Rochefort và D'Artagnan trao nhau cái chào lạnh nhạt qua đầu môi chót lưỡi. Nhưng Đức Hồng y vẫn đứng đó, găm chặt ánh mắt tinh tường của mình vào họ.

Cả hai người đàn ông cùng lúc bước ra khỏi phòng.

"Chúng ta sẽ còn tái ngộ chứ, thưa ngài?"

"Bất cứ khi nào ngài muốn," D'Artagnan đáp lời.

"Cơ hội ắt sẽ tới," Rochefort buông lời.

"Hả?" Đức Hồng y khẽ đẩy cửa nhìn theo.

Hai người đàn ông lập tức mỉm cười với nhau, bắt tay thật chặt, rồi cung kính cúi chào Đức ngài.

"Bọn này đang bắt đầu hết kiên nhẫn rồi đây," Athos gọi lớn.

"Tôi ra đây, những người anh em," D'Artagnan đáp lời. "Không những được tự do, mà còn được ân sủng nữa."

"Kể cho bọn này nghe chuyện gì đã xảy ra đi."

"Để tối nay nhé. Còn bây giờ, chúng ta hãy tạm chia tay nhau đã."

Đúng như dự định, tối hôm ấy D'Artagnan tìm đến phòng Athos. Cậu bắt gặp anh đang lặng lẽ dốc cạn chai vang Tây Ban Nha-một nghi thức quen thuộc mà đêm nào anh cũng thành kính thực hiện.

D'Artagnan cặn kẽ kể lại cuộc gặp gỡ giữa mình và Đức Hồng y. Đoạn, cậu rút bức sắc phong từ trong túi ra, rành rọt nói: "Đây, Athos thân mến, vinh dự này hiển nhiên phải thuộc về anh."

Athos khẽ mỉm cười, một nụ cười hiền từ mà chất chứa biết bao tâm sự.

"Bạn ạ," anh cất giọng từ tốn, "với một kẻ như Athos thì thế này là quá nhiều; nhưng với Bá tước de la Fère thì lại chẳng bõ bèn gì. Cậu hãy giữ lấy tờ sắc phong đi; nó là của cậu. Than ôi! Cậu đã phải đánh đổi nó bằng một cái giá quá đắt."

Rời khỏi phòng Athos, D'Artagnan bèn bước sang phòng Porthos. Chàng thanh niên ngỡ ngàng khi thấy anh bạn to lớn đang khoác trên mình một bộ cánh lộng lẫy, thêu thùa cầu kỳ, và đang say sưa ngắm nghía bóng mình trong gương.

"A, a! Cậu đấy à, anh bạn thân mến?" Porthos hớn hở kêu lên. "Cậu xem bộ đồ này có vừa vặn với tôi không?"

"Tuyệt vời," D'Artagnan đáp; "nhưng tôi mang đến cho anh một bộ trang phục còn xứng tầm với anh hơn nhiều."

"Gì vậy?" Porthos tò mò hỏi.

"Đó là bộ quân phục của chức phó uý Ngự lâm quân."

D'Artagnan lại kể cho Porthos nghe đầu đuôi câu chuyện với Đức Hồng y. Cậu rút tờ sắc phong ra và nói: "Đây, bạn của tôi, hãy điền tên anh vào và trở thành chỉ huy của tôi đi."

Porthos đưa mắt liếc qua tờ sắc phong rồi bình thản trả lại cho D'Artagnan, khiến chàng thanh niên vô cùng kinh ngạc.

"Quả thật," anh nói, "chức vụ ấy khiến tôi vô cùng hãnh diện; nhưng tôi e là mình chẳng có thời gian để tận hưởng vinh dự đó đâu. Trong lúc chúng ta tới Béthune, ông chồng của vị nữ công tước đời tôi đã qua đời. Vì thế, cậu bạn thân mến ạ, chiếc rương vàng của người quá cố đang dang tay chào đón tôi, và tôi sắp kết hôn với bà góa ấy đây. Nhìn xem! Tôi đang thử bộ đồ cưới đấy chứ. Cậu hãy giữ lấy chức phó uý đi, cậu bạn thân mến, hãy giữ lấy."

Sau đó, D'Artagnan ghé qua căn phòng của Aramis. Cậu thấy anh đang thành kính quỳ trước một cái giá cầu nguyện2, gục đầu bên một cuốn kinh thánh mở dở.

Lần thứ ba, cậu kể lại câu chuyện về Đức Hồng y, rút tờ sắc phong ra và khẩn khoản: "Anh, người anh em của chúng tôi, vị quân sư trí tuệ, người bảo vệ thầm lặng của chúng tôi, xin hãy nhận lấy tấm sắc phong này. Hơn ai hết, anh hoàn toàn xứng đáng với nó nhờ vào sự khôn ngoan và những lời cố vấn luôn dẫn lối đến thành công."

"Than ôi, bạn thân mến!" Aramis khẽ thở dài, "những sóng gió vừa qua đã vắt kiệt chút hứng thú cuối cùng của tôi với chốn binh đao. Lần này, tâm nguyện của tôi đã quyết. Ngay khi cuộc vây hãm kết thúc, tôi sẽ khoác áo tu sĩ dòng Lazarist3. D'Artagnan, cậu hãy giữ lấy tờ sắc phong đi; nghề binh nghiệp sinh ra là để dành cho cậu. Cậu chắc chắn sẽ trở thành một vị đội trưởng dũng cảm và can trường."

Cầm lại tờ sắc phong, đôi mắt D'Artagnan nhòa lệ vì cảm kích, dẫu trong lòng vẫn ngập tràn niềm vui. Cậu quay lại phòng Athos, thấy anh vẫn ngồi lặng lẽ bên chiếc bàn, say sưa ngắm nhìn chút rượu Malaga cuối cùng sóng sánh dưới ánh đèn lấp lánh.

"Chà," cậu cất giọng buồn bã, "họ cũng từ chối tôi cả rồi."

"Đó là bởi vì, người bạn thân mến, chẳng có ai xứng đáng với nó hơn chính cậu đâu."

Nói đoạn, Athos cầm lấy cây bút lông, kiên định viết tên D'Artagnan vào tờ sắc phong rồi trao lại cho cậu.

"Vậy là tôi sẽ chẳng còn lại người bạn nào ở bên," chàng thanh niên nghẹn ngào. "Than ôi! Chẳng còn lại gì ngoài những ký ức xót xa."

Và cậu gục mặt vào hai bàn tay, để mặc những giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên má.

"Cậu còn trẻ," Athos dịu dàng an ủi; "rồi thời gian sẽ xoa dịu nỗi đau, và những ký ức xót xa ấy sẽ dần hóa thành những hoài niệm ngọt ngào."



  1. Trong lịch sử, đây là một con đê khổng lồ do Hồng y Richelieu ra lệnh xây dựng vắt ngang vịnh La Rochelle nhằm phong tỏa đường biển, cắt đứt hoàn toàn nguồn tiếp tế lương thực và vũ khí từ hạm đội Anh cho quân phòng thủ trong thành. 

  2. Một loại bàn nhỏ bằng gỗ được thiết kế đặc biệt với bệ để quỳ gối và chỗ tì tay, thường dùng để cầu nguyện trong nhà thờ hoặc phòng riêng. 

  3. Một tu hội Công giáo (Tu hội Truyền giáo) được thành lập tại Pháp vào thế kỷ 17, tập trung vào việc giảng đạo và giúp đỡ những người nghèo khổ ở các vùng nông thôn.