Chương VII. TỔ ẤM CỦA NHỮNG CHÀNG NGỰ LÂM
Rời cung điện Louvre1, D'Artagnan đem khoản tiền bốn mươi pistole vừa nhận được ra hỏi ý kiến các bạn xem nên tiêu pha thế nào cho xứng. Athos khuyên cậu nên đặt ngay một bữa tiệc thịnh soạn tại quán Pomme-de-Pin2, Porthos lại xúi cậu thuê một gã hầu phòng, còn Aramis thì nhỏ to khuyên cậu nên tìm một cô nhân tình cho tử tế.
Bữa tiệc diễn ra ngay hôm ấy, dĩ nhiên là có kẻ ăn người ở hầu hạ tận bàn. Athos đứng ra gọi món, còn gã hầu thì do Porthos cất công mang tới. Đó là một gã trai xứ Picard3, được chàng Ngự lâm quân oai vệ tình cờ nhặt về trên cầu Tournelle4 lúc gã đang đứng nhổ bọt xuống dòng nước để ngắm những vòng sóng gợn lăn tăn.
Dáng vẻ trầm ngâm đó khiến Porthos tin rằng gã hẳn mang một tâm hồn mộng mơ, khoái suy tư chiêm nghiệm, nên đã đưa gã về mà chẳng cần đòi hỏi giấy tờ cớ chỉ gì thêm. Phong thái trượng phu bệ vệ của vị quý tộc đã hoàn toàn thu phục Planchet - tên của gã trai vùng Picard. Thế nhưng, Planchet thoáng chột dạ khi biết vị trí hầu phòng cho ngài đã bị một đồng nghiệp tên Mousqueton xí phần trước. Porthos phán một câu xanh rờn rằng cơ ngơi nhà anh dẫu bề thế đến đâu cũng chẳng thiết nuôi báo cô hai miệng ăn, thế là gã ngậm ngùi sang phục vụ D'Artagnan. Dẫu vậy, khi đứng hầu bàn trong bữa tiệc do người chủ mới khoản đãi, được chói mắt trước cả nắm vàng chóe cậu rút ra trả tiền, gã mừng thầm phen này đổi vận, tạ ơn trời đã run rủi cho gã lọt vào mắt xanh của một bậc bạo chúa hào phóng cỡ Crœsus5. Niềm tin ấy tiếp tục được củng cố ngay sau bữa tiệc, khi gã chén sạch sành sanh đống thức ăn thừa để bù lại những chuỗi ngày đói meo mốc mõm. Nhưng đến tối mịt, khi loay hoay dọn giường cho chủ, bao mộng tưởng rực rỡ của Planchet phút chốc tan thành mây khói. Cả cơ ngơi xép rệp chỉ có một phòng ngoài và một buồng ngủ, còn cái giường ấy là thứ đồ nội thất duy nhất trong nhà. Đêm ấy, Planchet đành ngả lưng ngoài phòng khách trên tấm chăn tước từ giường của D'Artagnan, và kể từ đó, chàng chủ nhân trẻ tuổi đành phải chịu trận nhắm mắt đưa chân qua đêm mà không có chăn đắp.
Về phần Athos, anh có một gã hầu mang tên Grimaud, được uốn nắn theo một lề thói kỳ quái bậc nhất thế gian. Kẻ này cực kỳ kiệm lời. Dĩ nhiên, ở đây ta đang nói về ông chủ Athos. Xuyên suốt năm sáu năm kề vai sát cánh với hai người bạn tâm giao Porthos và Aramis, họ vẫn nhớ đã từng thấy anh nhếch mép mỉm cười, nhưng chưa một ai nghe thấy anh cười bật thành tiếng. Lời lẽ của anh bao giờ cũng sắc gọn, súc tích, nã trúng đích và không rớt lại lấy một từ thừa; chẳng buồn thêu hoa dệt gấm, chẳng màng uốn lượn bay bướm. Lời anh thốt ra chỉ thuần túy bám sát thực tại, tuyệt nhiên vắng bóng mọi dấu vết lãng mạn mộng mơ.
Dẫu Athos chưa chạm ngưỡng băm, mang vẻ đẹp ngoại hình xuất chúng cùng trí tuệ hơn người, nhưng tuyệt nhiên chưa một ai rõ anh đã từng có bóng hồng nào kề ấp hay chưa. Anh chẳng bao giờ hé răng nói nửa lời về phụ nữ. Đành rằng anh không cấm đoán bạn bè lôi đề tài ấy ra bàn tán trước mặt mình, nhưng ai nấy đều tinh ý nhận ra câu chuyện ấy - thứ mà anh thỉnh thoảng ném vào một vài lời chua chát hoặc những nhận xét chán chường - thực chất lại khiến anh khó chịu vô cùng. Nét dè dặt, vẻ xù xì và sự câm lặng cố hữu đã khoác lên anh bóng dáng của một lão già cỗi. Bởi thế, để duy trì nếp sống tĩnh tại, anh đã rèn cho gã Grimaud thói quen răm rắp tuân lệnh chỉ qua một cử chỉ nhấc tay hay một cái nhếch môi khẽ khàng. Chưa bao giờ anh mở miệng nói năng với gã, họa chăng chỉ vào những dịp hãn hữu nhất.
Cũng có đôi lúc, Grimaud, kẻ vốn sợ chủ hơn sợ cọp nhưng lại cực kỳ trung thành và say mê ngưỡng mộ tài năng của anh, bỗng tưởng bở rằng mình đã bắt trúng phóc ý chủ. Gã ba chân bốn cẳng lao đi thi hành mệnh lệnh, để rồi làm ra một việc trái khoáy hoàn toàn. Những lúc như thế, Athos chỉ khẽ nhún vai, chẳng thèm nổi cơn tam bành, cứ thế túm cổ Grimaud lôi ra cho một trận đòn nên thân. Những ngày ấy, hiếm hoi thay, anh lại nói nhiều hơn một chút.
Porthos, như chúng ta đã thấy, mang một cá tính trái ngược hoàn toàn với Athos. Anh không chỉ nói nhiều, mà còn nói bô bô oang oang, công bằng mà nói, chẳng mấy bận tâm xem thiên hạ có màng vểnh tai lên nghe mình hay không. Anh nói chỉ vì cái thú được mở miệng và cái khoái cảm được nghe âm vang giọng nói của chính mình. Anh thao thao bất tuyệt đủ mọi đề tài trên trời dưới biển ngoại trừ khoa học, lấy cớ rằng mình đã nuôi lòng căm thù thâm căn cố đế đám học giả trói gà không chặt từ thuở còn để chỏm. Ở anh vắng bóng khí chất cao ngạo bẩm sinh của Athos, và thuở ban đầu làm bạn, sự đố kỵ đôi lúc khiến anh đối xử bất công với vị quý tộc ấy, người mà anh luôn cố tình dìm hàng bằng những bộ cánh diêm dúa lộng lẫy. Thế nhưng, chỉ với bộ đồng phục Ngự lâm quân tuềnh toàng, tư thế ngẩng cao đầu và những bước chân hiên ngang, Athos dễ dàng đoạt lại vị trí độc tôn vốn dĩ thuộc về mình, đẩy anh chàng Porthos phô trương màu mè xuống hàng thứ yếu. Để tự an ủi cái tôi bị tổn thương, Porthos đành trút bầu tâm sự vào không gian phòng chờ của ngài de Tréville hay phòng gác điện Louvre, nhét đầy tai người nghe bằng những chiến tích tình trường vang dội của mình, với đủ mọi hạng người từ những ả đàn bà trăng hoa sành sỏi đến các bậc phu nhân đài các, từ vợ của ngài luật sư đến quý bà bá tước, và chốt hạ bằng việc tự huyễn hoặc bản thân bằng hình bóng một nàng công chúa ngoại quốc say mê anh đến điên cuồng.
Ông bà xưa có câu: "Chủ nào tớ nấy." Vậy nên, hãy tạm gác gã Grimaud của Athos sang một bên để diện kiến Mousqueton - gã hầu phòng của Porthos.
Mousqueton vốn là dân Normandy6 gốc gác. Cái tên khai sinh Boniface7 đầy vẻ ưa chuộng hòa bình của gã đã bị ông chủ thẳng tay tước bỏ để thay bằng cái danh xưng Mousqueton kêu rổn rảng. Gã nhận lời hầu hạ Porthos chỉ với một điều kiện cỏn con là được bao bọc cái ăn cái mặc tử tế; bù lại, gã nài nỉ xin hai giờ rảnh rỗi mỗi ngày để tự mình xoay xở kiếm thêm chút đỉnh đắp đổi cho những nhu cầu cá nhân. Porthos gật đầu tắp lự trước thỏa thuận béo bở đó; mọi chuyện xem chừng vô cùng êm thấm. Anh lôi mớ đồ cũ rích cùng áo choàng bỏ xó ra đưa thợ may lại áo chẽn cho Mousqueton. Nhờ bàn tay nhào nặn tài tình của tay thợ may ma mãnh - kẻ đã lộn trái mặt vải sờn để hô biến mọi thứ trông như mới, và cô vợ lẳng lơ của hắn, người bị đồn đoán là đang nhăm nhe lôi tuột Porthos xuống khỏi cái lối sống vương giả của anh - Mousqueton đã lột xác thành một gã hầu bóng lộn bảnh bao mỗi khi tháp tùng ông chủ.
Về phần Aramis, người mà chúng tôi tin rằng chẳng cần dông dài thêm về tính cách - một tính cách mà, cũng tựa như các đồng đội của anh, chúng ta sẽ từ từ chiêm ngưỡng sự thăng hoa của nó - gã hầu của anh mang tên Bazin. Cứ nuôi mãi cái mộng ngày nào đó chủ mình sẽ khoác áo nhà tu, gã trung thành đóng bộ đen xì từ đầu đến chân cho ra dáng đệ tử của một vị giáo sĩ đáng kính. Đó là một gã đàn ông xứ Berry8 chừng băm lăm bốn mươi tuổi, hiền lành tẩm ngẩm tầm ngầm, lúc nào cũng chải chuốt bóng mượt, chuyên dùng thời gian rảnh rỗi ông chủ ban cho để ngâm cứu những pho sách đạo đức thánh hiền, hay cặm cụi sửa soạn tươm tất những bữa tối đạm bạc cho hai người nhưng lại ngon đến nuốt lưỡi. Còn lại, gã đích thị là một kẻ vừa mù, vừa câm, vừa điếc trước thế sự, song lại giữ một lòng trung thành bất diệt chẳng gì lay chuyển nổi.
Và giờ đây, khi đã đôi phần quen thuộc với các vị chủ nhân cùng những gã hầu phòng, thiết tưởng chúng ta cũng nên ghé mắt qua nơi ăn chốn ở của họ.
Athos trọ trên phố Férou, chỉ cách khu vườn Luxembourg9 chừng vài sải bước. Căn hộ của anh gồm hai buồng nhỏ được bày biện vô cùng trang nhã, nằm gọn trong một tòa nhà cho thuê đầy đủ tiện nghi. Bà chủ nhà, hãy còn trẻ trung và sở hữu nhan sắc mặn mà, vẫn thường ném về phía anh những ánh nhìn đong đưa đầy tình ý, ngặt nỗi mọi nỗ lực đều chỉ hoài công. Vài mảnh tàn dư của một thời vàng son lộng lẫy vẫn thỉnh thoảng hiện hữu đây đó trên những bức tường của chốn nương thân khiêm nhường này. Điển hình là một thanh bảo kiếm được chạm trổ vô cùng tinh xảo, một bảo vật mang dấu ấn từ thời vua Francis đệ Nhất; riêng phần chuôi nạm đầy đá quý hẳn đã ngót nghét cái giá hai trăm pistole. Vậy mà, ngay cả trong những giờ phút túng quẫn nhất, Athos cũng chưa từng một lần đem cầm cố hay rao bán. Từ lâu, món binh khí tuyệt mỹ ấy đã trở thành niềm khao khát cháy bỏng của Porthos. Porthos sẵn lòng đánh đổi cả mười năm tuổi thọ chỉ để được một lần nắm quyền sở hữu thanh gươm này.
Có bận nọ, vì vướng lịch hẹn hò với một vị nữ công tước, anh chàng thậm chí đã đánh bạo hỏi mượn Athos. Chẳng buồn thốt lên lời nào, Athos dốc cạn mọi chiếc túi, gom góp lại toàn bộ những món tư trang, hầu bao, phù hiệu cho đến dây chuyền vàng, thảy hết cho Porthos. Thế nhưng, riêng với thanh gươm, anh dứt khoát tuyên bố rằng nó đã được niêm phong vĩnh viễn tại chỗ của nó, và sẽ chẳng bao giờ rời khỏi nơi ấy cho tới chừng nào chính người chủ của nó dời gót ra đi. Bên cạnh thanh gươm quý, trên tường còn treo một bức chân dung phác họa một vị quý tộc thuộc triều đại Henry đệ Tam10. Vị này vận bộ y phục tao nhã đến tột bậc, trước ngực còn đeo tấm Huân chương Chúa Thánh Thần11. Điểm đáng nói là bức họa lại mang nhiều nét tương đồng kỳ lạ với khuôn mặt của Athos, một sự gợi nhắc về huyết thống rõ ràng đến mức bất cứ ai cũng phải ngầm đoán vị đại quý tộc kia, một hiệp sĩ lừng lẫy trong các Huân tước của Nhà vua, đích thị là bậc tiên tổ của anh.
Thêm vào đó, một chiếc rương vàng được chế tác vô cùng tinh xảo, chạm khắc cùng một biểu tượng gia huy với thanh gươm và bức chân dung, chễm chệ trở thành tâm điểm trang hoàng trên bệ lò sưởi, dẫu cho nó có phần lạc lõng và chói lọi quá mức so với phần nội thất giản dị xung quanh. Athos lúc nào cũng khư khư mang theo chiếc chìa khóa của cái rương ấy bên mình; dẫu vậy, có một ngày nọ anh đã mở nó ra ngay trước mắt Porthos, và gã khổng lồ kia tin chắc mười mươi rằng bên trong chẳng giấu giếm thứ gì ngoài những bức thư và mớ giấy tờ-hẳn nhiên là thư tình cùng những tài liệu tuyệt mật của gia tộc.
Porthos thì lại ngụ tại một căn hộ có vẻ ngoài vô cùng bề thế và xa hoa tột bậc, nằm trên con phố Vieux-Colombier. Mỗi bận rảo bước ngang qua mấy khung cửa sổ cùng một người bạn nào đó-nơi mà Mousqueton chắc mẩm sẽ luôn túc trực trong bộ y phục lộng lẫy nhất-Porthos lại kiêu hãnh ngẩng cao đầu, đưa tay chỉ và dõng dạc tuyên bố: "Nhà của tôi đấy!" Thế nhưng, thực tế thì chẳng có ai từng thấy anh có mặt ở nhà; anh cũng chưa bao giờ ngỏ lời mời một ai bước lên căn hộ của mình, thành thử cũng không một kẻ nào đủ sức tưởng tượng nổi cái chốn xa hoa nhường ấy rốt cuộc chứa đựng những thứ của cải thực sự gì bên trong.
Về phần Aramis, anh chọn một chốn dung thân nhỏ nhắn, bao gồm một phòng trang điểm bé xíu, một phòng ăn và một phòng ngủ. Căn buồng này, cũng giống như bao căn phòng khác trong nhà, nằm ngay ở tầng trệt và nhìn thẳng ra một mảnh vườn nhỏ rợp bóng cây mát mẻ, xanh um tĩnh lặng, một chốn thâm nghiêm mà ánh mắt của những người hàng xóm hiếu kỳ chẳng tài nào xuyên thấu nổi.
Còn với D'Artagnan, chúng ta hẳn đều đã rõ cậu thanh niên ấy trọ ở nơi nào, cũng như đã có dịp làm quen với người hầu của cậu, ngài Planchet.
Vốn mang bản tính tò mò của một kẻ có tài mưu lược, D'Artagnan đã viện đủ mọi cách để cất công tìm hiểu lai lịch thật sự của Athos, Porthos và Aramis. Bởi lẽ, sau những bí danh kia, mỗi người lại che giấu một danh tính thực sự. Cậu đặc biệt lưu tâm đến Athos, người luôn toát lên khí chất quý tộc ngời ngời dù đứng cách xa cả dặm. Thế là, D'Artagnan quyết định dò hỏi Porthos để nghe ngóng tin tức về Athos và Aramis, rồi lại lân la trò chuyện với Aramis để moi móc đôi chút bí mật về Porthos.
Đáng tiếc thay, Porthos chẳng mảy may hay biết gì về quá khứ của người bạn trầm mặc kia, ngoại trừ những gì Athos tự mình bộc lộ. Thiên hạ rỉ tai nhau rằng Athos từng nếm trải những trái đắng trong tình yêu, và một sự phản bội kinh hoàng nào đó đã vĩnh viễn đầu độc cuộc đời của người đàn ông hào hiệp này. Sự phản bội ấy là gì? Cả thế gian vẫn mù tịt.
Về phần Porthos, ngoại trừ cái tên thật còn giấu kín (giống như hai người bạn kia), thì cuộc đời anh lại hiện lên rõ mồn một. Vốn tính phù phiếm và ruột để ngoài da, tâm can Porthos dễ bị nhìn thấu như một lăng kính pha lê trong vắt. Điều duy nhất có thể đánh lừa kẻ đi dò la hẳn là việc nhẹ dạ tin vào những lời ba hoa có cánh mà anh chàng thường tự tâng bốc về bản thân.
Trái lại, Aramis mang vẻ ngoài như thể chẳng có gì giấu giếm, nhưng thực chất lại là một chàng trai bí ẩn khôn lường. Anh thốt ra rất ít lời khi được hỏi về người khác. Thế nên D'Artagnan, vốn từng nghe loáng thoáng lời đồn đại về chiến tích tình trường của chàng Ngự lâm quân này với một nàng công chúa, bèn muốn đào sâu đôi chút vào những cuộc phiêu lưu ái tình của người đang trò chuyện cùng mình. "Thế còn anh thì sao, bạn hiền ơi?" D'Artagnan cất tiếng hỏi, "Anh chỉ toàn kể chuyện về các nữ nam tước, nữ bá tước và công chúa của người ta thôi sao?"
"Lạy Chúa!" Aramis đáp. "Tôi nhắc tới họ là bởi Porthos đã tự mình kể ra, bởi chính anh ấy đã khoe khoang hết thảy những chiến tích rực rỡ ấy trước mặt tôi. Nhưng xin hãy tin tôi, ngài d'Artagnan thân mến, nếu tôi nghe được từ một nguồn nào khác, hay được đích thân họ tâm sự, thì dù là một vị linh mục xưng tội cũng chẳng thể kín miệng hơn tôi đâu."
"Ồ, tôi chẳng nghi ngờ gì điều đó," D'Artagnan mỉm cười đáp; "nhưng có vẻ như anh khá sành sỏi về các huy hiệu đấy chứ-chẳng hạn như chiếc khăn tay thêu nọ, cái nhờ đó mà tôi mới có vinh hạnh được quen biết anh?"
Lần này Aramis không hề phật ý, trái lại, anh khoác lên mình vẻ khiêm nhường tột bậc và đáp lại bằng chất giọng vô cùng thân tình: "Bạn thân mến, xin đừng quên rằng tôi luôn tâm niệm được phụng sự Giáo hội, và tôi hằng xa lánh mọi cám dỗ trần tục. Chiếc khăn tay mà cậu thấy không phải là kỷ vật tôi được tặng, mà là do một người bạn của tôi lỡ bỏ quên tại nhà tôi. Tôi đành phải giữ lấy nó để tránh gây rắc rối cho anh ấy và người phụ nữ anh ấy yêu. Về phần mình, tôi chẳng có, và cũng chẳng màng đến việc có một nhân tình. Ở khía cạnh này, tôi noi theo tấm gương sáng suốt của Athos, người cũng nói không với tình ái giống như tôi vậy."
"Nhưng quỷ tha ma bắt đi! Anh đâu phải là linh mục, anh là một Ngự lâm quân cơ mà!" D'Artagnan thốt lên.
"Chỉ là một Ngự lâm quân tạm thời thôi, anh bạn ạ," Aramis khẽ đáp, "như lời Đức Hồng y vẫn nói, một Ngự lâm quân bất đắc dĩ, dẫu sâu thẳm trong tâm hồn, hãy tin tôi, tôi luôn là người của Giáo hội. Athos và Porthos đã lôi kéo tôi vào con đường này cốt chỉ để tôi có việc gì đó khuây khỏa. Vào đúng thời điểm chuẩn bị được tấn phong, tôi vô tình vướng phải đôi chút rắc rối với… Nhưng thôi, chuyện đó chắc chắn chẳng khiến cậu hứng thú đâu, vả lại tôi đang làm mất thì giờ quý báu của cậu đấy."
"Đâu có! Tôi đang vô cùng hứng thú đây," D'Artagnan vội vã kêu lên, "và ngay lúc này tôi cũng chẳng vướng bận chút việc gì cả."
"Cậu thì rảnh rỗi, nhưng tôi lại phải lo đọc thuộc kinh nhật tụng của mình," Aramis ung dung đáp lời; "sau đó còn phải chắp bút làm mấy vần thơ mà phu nhân d'Aiguillon đã đích thân nhờ vả. Xong xuôi đâu đấy, tôi lại phải tất tả ghé qua phố St. Honoré12 để chọn mua ít phấn hồng cho phu nhân de Chevreuse. Vậy nên cậu thấy đấy, anh bạn thân mến, dẫu cậu không vội, thì tôi đây lại đang vội ngập đầu."
Nói đoạn, Aramis thân tình chìa tay ra bắt lấy tay người bạn trẻ, rồi từ tốn nói lời cáo từ.
Dù đã cố gắng hết sức, D'Artagnan vẫn chẳng thể dò hỏi thêm được chút gì về lai lịch của ba người bạn mới. Vì vậy, cậu quyết định tạm thời chấp nhận những câu chuyện đồn đại về quá khứ của họ, ôm ấp hy vọng thời gian sẽ mang đến những tiết lộ thấu đáo và chân thực hơn. Trong lúc chờ đợi, cậu tôn sùng Athos như một Achilles13, coi Porthos tựa một Ajax14 và nhìn nhận Aramis như một Joseph15.
Nhìn chung, cuộc sống của bốn chàng thanh niên trôi qua trong bầu không khí khá êm đềm. Athos hay chơi bài và thường xui xẻo thua nhẵn túi. Dẫu vậy, anh chưa từng mở lời vay mượn bạn bè lấy một đồng sou16, trong khi hầu bao của anh lại luôn rộng mở cho họ dốc cạn. Đặc biệt, những lúc đánh cược bằng danh dự, anh luôn đánh thức các chủ nợ dậy từ trước sáu giờ sáng để sòng phẳng thanh toán món nợ từ đêm hôm trước.
Porthos lại mang tính khí thất thường. Vào những ngày đỏ bạc, anh trở nên kiêu ngạo và thích phô trương rùm beng; nhưng hễ thua trắng, anh lại lặn mất tăm mất tích vài hôm. Đến khi ló mặt ra, trông anh gầy sọp đi, khuôn mặt nhợt nhạt hẳn, song trong túi rủng rỉnh tiền bạc.
Về phần Aramis, anh chẳng bao giờ đụng đến cờ bạc. Có thể nói anh là một chàng Ngự lâm quân kém cỏi nhất và là một người bạn kém hòa đồng nhất mà người ta có thể hình dung ra. Lúc nào anh cũng bận bịu việc nọ việc kia. Đôi khi ngay giữa bữa ăn tối, khi mọi người đang say sưa men rượu và rôm rả chuyện trò, đinh ninh rằng sẽ còn đôi ba giờ đồng hồ vui vẻ bên bàn tiệc, thì Aramis lại liếc nhìn đồng hồ, đứng dậy nở một nụ cười nhã nhặn, rồi cáo lỗi rút lui. Anh viện cớ phải đi tham vấn một nhà thần học theo lịch hẹn trước. Những bận khác, anh lại giam mình trong phòng để cắm cúi viết luận văn, và cẩn thận dặn dò bạn bè chớ có làm phiền.
Trước những lời viện cớ ấy, Athos thường chỉ mỉm cười - một nụ cười man mác buồn nhưng đầy quyến rũ, vô cùng hài hòa với những đường nét cao quý trên gương mặt anh. Trong khi đó, Porthos vừa nốc rượu ừng ực vừa quả quyết thề thốt rằng Aramis sẽ chẳng bao giờ làm nên trò trống gì khác ngoài việc trở thành một tay cha xứ quèn ở chốn làng quê.
Planchet, người hầu của D'Artagnan, đón nhận vận may một cách khá điềm nhiên. Với mức thù lao ba mươi sou mỗi ngày, suốt một tháng trời, hắn đi đi về về phòng trọ với dáng vẻ rạng rỡ như một chú chim sẻ, hết lòng ân cần chăm sóc chủ nhân. Nhưng khi cơn gió xui xẻo bắt đầu luồn lách vào chuyện chi tiêu ở phố Fossoyeurs17 - tức là vào lúc bốn mươi đồng pistole vua Louis XIII ban thưởng đã cạn sạch sành sanh - hắn bắt đầu làu bàu cằn nhằn. Những tiếng lải nhải ấy khiến Athos phát ớn, Porthos thấy thật xấc xược, còn Aramis thì thấy lố bịch. Athos khuyên D'Artagnan nên tống cổ gã đi cho khuất mắt; Porthos lại xúi giục đánh cho hắn một trận nhừ tử trước đã; trong khi Aramis cho rằng bậc làm chủ thì chẳng cần bận tâm đến điều gì khác ngoài thái độ lễ phép mà kẻ dưới phải dành cho mình.
"Các anh nói nghe nhẹ bẫng," D'Artagnan vặn lại, "Anh Athos này, anh sống với Grimaud cứ như người câm, cấm tiệt hắn hé răng, thành thử chẳng bao giờ anh phải cãi vã với hắn cả; anh Porthos nữa, anh xử lý mọi việc với phong thái hào nhoáng, luôn là một vị thần uy nghi trong mắt gã người hầu Mousqueton; cả anh nữa Aramis, anh thì lúc nào cũng đắm chìm vào những mớ lý thuyết thần học sâu xa, khiến gã Bazin hiền lành sùng đạo phải một mực kính trọng. Nhưng còn tôi, một kẻ chẳng có lấy một nguồn thu nhập ổn định hay chỗ dựa tài chính nào - một kẻ chưa được làm Ngự lâm quân mà Vệ sĩ cũng chẳng phải, tôi lấy cái gì để khiến cho Planchet phải gắn bó, nể sợ hay kính trọng tôi đây?"
"Đây quả là một vấn đề nan giải," ba người bạn đồng thanh đáp. "Đó là chuyện nội bộ gia đình cậu. Trị người hầu cũng như trị vợ vậy, ngay từ đầu phải đặt họ vào đúng vị trí mà mình muốn. Cậu cứ ngẫm mà xem."
D'Artagnan suy nghĩ lung lắm, cuối cùng quyết định sẽ cho Planchet ăn đòn như một biện pháp tạm thời; cậu thi hành việc đó với sự thấu đáo vốn có trong mọi hành động của mình. Sau khi nện cho gã người hầu một trận nhừ tử, cậu cấm hắn không được tự ý bỏ việc nếu chưa có lệnh. "Bởi vì," cậu nói thêm, "tương lai kiểu gì cũng sẽ khởi sắc, ta nắm chắc sẽ có những ngày tháng tốt đẹp hơn. Do đó, nếu ngươi chịu ở lại hầu hạ ta, ngươi sẽ có cơ hội đổi đời. Ta là một người chủ quá đỗi tốt bụng, làm sao nỡ để ngươi tuột mất một vận may nhường ấy chỉ vì chấp thuận cái lời xin nghỉ việc của ngươi."
Cách xử lý khôn khéo này khiến ba chàng Ngự lâm quân thêm phần nể phục nghệ thuật dùng người của D'Artagnan. Bản thân Planchet cũng bị choáng ngợp, chuyển sang sùng bái chủ nhân sát đất và từ đó cấm tuyệt không còn hó hé nửa lời về việc xin thôi việc.
Thế rồi, bốn chàng trai trẻ quấn quýt bên nhau như anh em một nhà. Vốn từ tỉnh lẻ chân ướt chân ráo bước vào một thế giới hoàn toàn xa lạ và chưa có nề nếp sinh hoạt nào cố định, D'Artagnan dễ dàng thích nghi và hòa nhịp cùng thói quen của những người bạn mới.
Vào mùa đông, họ thường thức giấc lúc tám giờ sáng, còn mùa hè thì dậy từ sáu giờ, rồi rủ nhau đi nhận mật khẩu và nghe ngóng tình hình tại dinh thự ngài de Tréville. Mặc dù chưa chính thức khoác áo Ngự lâm quân, D'Artagnan vẫn thực hiện mọi bổn phận với sự đúng giờ đáng kinh ngạc. Cậu luôn bám sát và cùng đứng gác với bất kỳ ai trong số ba người bạn mỗi khi đến phiên họ làm nhiệm vụ. Chẳng mấy chốc, danh tiếng của cậu đã nổi như cồn khắp Dinh Ngự lâm quân, nơi mọi người đều xem cậu như một chiến hữu tốt thực thụ. Còn ngài de Tréville, người đã sớm nhìn thấu tài năng và thực lòng quý mến cậu ngay từ lần gặp đầu tiên, cũng không ngừng hết lời tiến cử cậu với Đức vua.
Về phần mình, ba chàng Ngự lâm quân cũng tỏ ra vô cùng gắn bó với người đồng đội trẻ tuổi. Tình bằng hữu bền chặt cùng nhu cầu phải gặp gỡ nhau ba bốn bận mỗi ngày - bất kể là để đấu kiếm, bàn chuyện đại sự hay đơn thuần chỉ là giải khuây - đã khiến bốn người đàn ông này luôn quấn quýt lấy nhau như hình với bóng. Người ta lúc nào cũng bắt gặp nhóm "Những kẻ không thể tách rời" này rảo bước tìm nhau, lúc thì từ vườn Luxembourg đến quảng trường St. Sulpice, khi lại vòng từ phố Vieux-Colombier quay về vườn Luxembourg.
Trong khi đó, những lời hứa hẹn của ngài de Tréville đang đơm hoa kết trái. Một buổi sáng đẹp trời, Đức vua hạ lệnh cho Hiệp sĩ Dessessart thu nhận D'Artagnan vào đội Vệ sĩ của ngài. Cậu thanh niên khẽ buông một tiếng thở dài thườn thượt khi khoác lên mình bộ đồng phục mà cậu sẵn sàng đánh đổi cả mười năm tuổi thọ chỉ để thay bằng sắc áo Ngự lâm quân. Nhưng ngài de Tréville đã đứng ra trấn an, hứa sẽ ban cho cậu ân huệ đó sau hai năm tập sự - một khoảng thời gian hoàn toàn có thể được rút ngắn nếu D'Artagnan chớp được cơ hội lập công trạng với nhà vua, hoặc chứng tỏ bản lĩnh bằng một chiến công xuất chúng nào đó. Nhờ lời hứa như đinh đóng cột ấy, D'Artagnan mới bằng lòng lui gót, và ngay ngày hôm sau cậu hăm hở bước vào nhận nhiệm vụ.
Và thế là đến lượt Athos, Porthos, cùng Aramis thay phiên nhau sát cánh đứng gác mỗi khi D'Artagnan làm nhiệm vụ. Nhờ vậy, khi kết nạp D'Artagnan, đội quân của ngài Hiệp sĩ Dessessart thực chất đã chiêu mộ được cả bốn người tài ba chứ không chỉ riêng một người.
-
Cung điện hoàng gia tọa lạc tại thủ đô Paris, Pháp. Dưới triều đại vua Louis XIII, đây là một trong những nơi ở và làm việc chính của hoàng gia trước khi triều đình chuyển về cung điện Versailles. ↩
-
Một tửu quán có thật và rất nổi tiếng ở Paris vào thế kỷ 17, thường là nơi lui tới của giới văn nghệ sĩ và binh lính đương thời. ↩
-
Tức vùng Picardie, một tỉnh lịch sử nằm ở miền Bắc nước Pháp. ↩
-
Cây cầu bắc qua sông Seine ở Paris, nối bờ nam của dòng sông với đảo Île Saint-Louis. ↩
-
Vị vua cuối cùng của vương quốc Lydia cổ đại, cai trị vào thế kỷ 6 TCN. Ông nổi tiếng trong lịch sử và thần thoại Hy Lạp là người sở hữu khối tài sản khổng lồ. ↩
-
Tên gọi tiếng Anh của vùng Normandie, một vùng lãnh thổ nằm ở bờ biển phía Tây Bắc nước Pháp. ↩
-
Cái tên bắt nguồn từ tiếng Latin 'Bonifatius', mang ý nghĩa là 'số phận tốt lành' hoặc 'người làm việc thiện'. ↩
-
Một tỉnh lịch sử nằm ở trung tâm nước Pháp. ↩
-
Khu vườn lớn và nổi tiếng ở Paris, được tạo ra từ đầu thế kỷ 17 bao quanh cung điện Luxembourg, là nơi dạo chơi phổ biến của giới quý tộc. ↩
-
Henri III (1551-1589), vua nước Pháp, vị vua cuối cùng của vương triều Valois. ↩
-
L'Ordre du Saint-Esprit, huân chương hiệp sĩ cao quý và danh giá bậc nhất của vương triều Pháp, được vua Henri III sáng lập vào năm 1578. ↩
-
Một trong những con phố lâu đời và quan trọng nhất ở trung tâm Paris, nổi tiếng là khu vực sầm uất với nhiều cửa hiệu sang trọng. ↩
-
Vị anh hùng vĩ đại nhất của quân Hy Lạp trong thần thoại về Chiến tranh thành Troy, nổi tiếng với sức mạnh vô địch và dũng khí phi thường. ↩
-
Anh hùng Hy Lạp trong Chiến tranh thành Troy, được biết đến với thể hình to lớn, sức mạnh cơ bắp và lòng dũng cảm trên chiến trường. ↩
-
Nhân vật trong Kinh Thánh Cựu Ước, nổi tiếng với sự khôn ngoan, đức hạnh và khả năng giữ mình trong sạch trước những cám dỗ. ↩
-
Đơn vị tiền tệ có mệnh giá nhỏ của Pháp xưa. Một đồng franc thời đó tương đương với 20 sou. ↩
-
Một con phố ở Paris (nghĩa đen là phố của những người đào huyệt), nơi trọ của D'Artagnan. ↩
Chapter VII. THE INTERIOR OF THE MUSKETEERS
When D’Artagnan was out of the Louvre, and consulted his friends upon the use he had best make of his share of the forty pistoles, Athos advised him to order a good repast at the Pomme-de-Pin, Porthos to engage a lackey, and Aramis to provide himself with a suitable mistress.
The repast was carried into effect that very day, and the lackey waited at table. The repast had been ordered by Athos, and the lackey furnished by Porthos. He was a Picard, whom the glorious Musketeer had picked up on the Bridge Tournelle, making rings and plashing in the water.
Porthos pretended that this occupation was proof of a reflective and contemplative organization, and he had brought him away without any other recommendation. The noble carriage of this gentleman, for whom he believed himself to be engaged, had won Planchet-that was the name of the Picard. He felt a slight disappointment, however, when he saw that this place was already taken by a compeer named Mousqueton, and when Porthos signified to him that the state of his household, though great, would not support two servants, and that he must enter into the service of D’Artagnan. Nevertheless, when he waited at the dinner given by his master, and saw him take out a handful of gold to pay for it, he believed his fortune made, and returned thanks to heaven for having thrown him into the service of such a Crœsus. He preserved this opinion even after the feast, with the remnants of which he repaired his own long abstinence; but when in the evening he made his master’s bed, the chimeras of Planchet faded away. The bed was the only one in the apartment, which consisted of an antechamber and a bedroom. Planchet slept in the antechamber upon a coverlet taken from the bed of D’Artagnan, and which D’Artagnan from that time made shift to do without.
Athos, on his part, had a valet whom he had trained in his service in a thoroughly peculiar fashion, and who was named Grimaud. He was very taciturn, this worthy signor. Be it understood we are speaking of Athos. During the five or six years that he had lived in the strictest intimacy with his companions, Porthos and Aramis, they could remember having often seen him smile, but had never heard him laugh. His words were brief and expressive, conveying all that was meant, and no more; no embellishments, no embroidery, no arabesques. His conversation was a matter of fact, without a single romance.
Although Athos was scarcely thirty years old, and was of great personal beauty and intelligence of mind, no one knew whether he had ever had a mistress. He never spoke of women. He certainly did not prevent others from speaking of them before him, although it was easy to perceive that this kind of conversation, in which he only mingled by bitter words and misanthropic remarks, was very disagreeable to him. His reserve, his roughness, and his silence made almost an old man of him. He had, then, in order not to disturb his habits, accustomed Grimaud to obey him upon a simple gesture or upon a simple movement of his lips. He never spoke to him, except under the most extraordinary occasions.
Sometimes, Grimaud, who feared his master as he did fire, while entertaining a strong attachment to his person and a great veneration for his talents, believed he perfectly understood what he wanted, flew to execute the order received, and did precisely the contrary. Athos then shrugged his shoulders, and, without putting himself in a passion, thrashed Grimaud. On these days he spoke a little.
Porthos, as we have seen, had a character exactly opposite to that of Athos. He not only talked much, but he talked loudly, little caring, we must render him that justice, whether anybody listened to him or not. He talked for the pleasure of talking and for the pleasure of hearing himself talk. He spoke upon all subjects except the sciences, alleging in this respect the inveterate hatred he had borne to scholars from his childhood. He had not so noble an air as Athos, and the commencement of their intimacy often rendered him unjust toward that gentleman, whom he endeavored to eclipse by his splendid dress. But with his simple Musketeer’s uniform and nothing but the manner in which he threw back his head and advanced his foot, Athos instantly took the place which was his due and consigned the ostentatious Porthos to the second rank. Porthos consoled himself by filling the antechamber of M. de Tréville and the guardroom of the Louvre with the accounts of his love scrapes, after having passed from professional ladies to military ladies, from the lawyer’s dame to the baroness, there was question of nothing less with Porthos than a foreign princess, who was enormously fond of him.
An old proverb says, “Like master, like man.” Let us pass, then, from the valet of Athos to the valet of Porthos, from Grimaud to Mousqueton.
Mousqueton was a Norman, whose pacific name of Boniface his master had changed into the infinitely more sonorous name of Mousqueton. He had entered the service of Porthos upon condition that he should only be clothed and lodged, though in a handsome manner; but he claimed two hours a day to himself, consecrated to an employment which would provide for his other wants. Porthos agreed to the bargain; the thing suited him wonderfully well. He had doublets cut out of his old clothes and cast-off cloaks for Mousqueton, and thanks to a very intelligent tailor, who made his clothes look as good as new by turning them, and whose wife was suspected of wishing to make Porthos descend from his aristocratic habits, Mousqueton made a very good figure when attending on his master.
As for Aramis, of whom we believe we have sufficiently explained the character-a character which, like that of his companions, we shall be able to follow in its development-his lackey was called Bazin. Thanks to the hopes which his master entertained of someday entering into orders, he was always clothed in black, as became the servant of a churchman. He was a Berrichon, thirty-five or forty years old, mild, peaceable, sleek, employing the leisure his master left him in the perusal of pious works, providing rigorously for two a dinner of few dishes, but excellent. For the rest, he was dumb, blind, and deaf, and of unimpeachable fidelity.
And now that we are acquainted, superficially at least, with the masters and the valets, let us pass on to the dwellings occupied by each of them.
Athos dwelt in the Rue Férou, within two steps of the Luxembourg. His apartment consisted of two small chambers, very nicely fitted up, in a furnished house, the hostess of which, still young and still really handsome, cast tender glances uselessly at him. Some fragments of past splendor appeared here and there upon the walls of this modest lodging; a sword, for example, richly embossed, which belonged by its make to the times of Francis I, the hilt of which alone, encrusted with precious stones, might be worth two hundred pistoles, and which, nevertheless, in his moments of greatest distress Athos had never pledged or offered for sale. It had long been an object of ambition for Porthos. Porthos would have given ten years of his life to possess this sword.
One day, when he had an appointment with a duchess, he endeavored even to borrow it of Athos. Athos, without saying anything, emptied his pockets, got together all his jewels, purses, aiguillettes, and gold chains, and offered them all to Porthos; but as to the sword, he said it was sealed to its place and should never quit it until its master should himself quit his lodgings. In addition to the sword, there was a portrait representing a nobleman of the time of Henry III., dressed with the greatest elegance, and who wore the Order of the Holy Ghost; and this portrait had certain resemblances of lines with Athos, certain family likenesses which indicated that this great noble, a knight of the Order of the King, was his ancestor.
Besides these, a casket of magnificent goldwork, with the same arms as the sword and the portrait, formed a middle ornament to the mantelpiece, and assorted badly with the rest of the furniture. Athos always carried the key of this coffer about him; but he one day opened it before Porthos, and Porthos was convinced that this coffer contained nothing but letters and papers-love letters and family papers, no doubt.
Porthos lived in an apartment, large in size and of very sumptuous appearance, in the Rue du Vieux-Colombier. Every time he passed with a friend before his windows, at one of which Mousqueton was sure to be placed in full livery, Porthos raised his head and his hand, and said, “That is my abode!” But he was never to be found at home; he never invited anybody to go up with him, and no one could form an idea of what his sumptuous apartment contained in the shape of real riches.
As to Aramis, he dwelt in a little lodging composed of a boudoir, an eating room, and a bedroom, which room, situated, as the others were, on the ground floor, looked out upon a little fresh green garden, shady and impenetrable to the eyes of his neighbors.
With regard to D’Artagnan, we know how he was lodged, and we have already made acquaintance with his lackey, Master Planchet.
D’Artagnan, who was by nature very curious-as people generally are who possess the genius of intrigue-did all he could to make out who Athos, Porthos, and Aramis really were (for under these pseudonyms each of these young men concealed his family name)-Athos in particular, who, a league away, savored of nobility. He addressed himself then to Porthos to gain information respecting Athos and Aramis, and to Aramis in order to learn something of Porthos.
Unfortunately Porthos knew nothing of the life of his silent companion but what revealed itself. It was said Athos had met with great crosses in love, and that a frightful treachery had forever poisoned the life of this gallant man. What could this treachery be? All the world was ignorant of it.
As to Porthos, except his real name (as was the case with those of his two comrades), his life was very easily known. Vain and indiscreet, it was as easy to see through him as through a crystal. The only thing to mislead the investigator would have been belief in all the good things he said of himself.
With respect to Aramis, though having the air of having nothing secret about him, he was a young fellow made up of mysteries, answering little to questions put to him about others, and having learned from him the report which prevailed concerning the success of the Musketeer with a princess, wished to gain a little insight into the amorous adventures of his interlocutor. “And you, my dear companion,” said he, “you speak of the baronesses, countesses, and princesses of others?”
“Pardieu! I spoke of them because Porthos talked of them himself, because he had paraded all these fine things before me. But be assured, my dear Monsieur d’Artagnan, that if I had obtained them from any other source, or if they had been confided to me, there exists no confessor more discreet than myself.”
“Oh, I don’t doubt that,” replied D’Artagnan; “but it seems to me that you are tolerably familiar with coats of arms-a certain embroidered handkerchief, for instance, to which I owe the honor of your acquaintance?”
This time Aramis was not angry, but assumed the most modest air and replied in a friendly tone, “My dear friend, do not forget that I wish to belong to the Church, and that I avoid all mundane opportunities. The handkerchief you saw had not been given to me, but it had been forgotten and left at my house by one of my friends. I was obliged to pick it up in order not to compromise him and the lady he loves. As for myself, I neither have, nor desire to have, a mistress, following in that respect the very judicious example of Athos, who has none any more than I have.”
“But what the devil! You are not a priest, you are a Musketeer!”
“A Musketeer for a time, my friend, as the cardinal says, a Musketeer against my will, but a churchman at heart, believe me. Athos and Porthos dragged me into this to occupy me. I had, at the moment of being ordained, a little difficulty with-But that would not interest you, and I am taking up your valuable time.”
“Not at all; it interests me very much,” cried D’Artagnan; “and at this moment I have absolutely nothing to do.”
“Yes, but I have my breviary to repeat,” answered Aramis; “then some verses to compose, which Madame d’Aiguillon begged of me. Then I must go to the Rue St. Honoré in order to purchase some rouge for Madame de Chevreuse. So you see, my dear friend, that if you are not in a hurry, I am very much in a hurry.”
Aramis held out his hand in a cordial manner to his young companion, and took leave of him.
Notwithstanding all the pains he took, D’Artagnan was unable to learn any more concerning his three new-made friends. He formed, therefore, the resolution of believing for the present all that was said of their past, hoping for more certain and extended revelations in the future. In the meanwhile, he looked upon Athos as an Achilles, Porthos as an Ajax, and Aramis as a Joseph.
As to the rest, the life of the four young friends was joyous enough. Athos played, and that as a rule unfortunately. Nevertheless, he never borrowed a sou of his companions, although his purse was ever at their service; and when he had played upon honor, he always awakened his creditor by six o’clock the next morning to pay the debt of the preceding evening.
Porthos had his fits. On the days when he won he was insolent and ostentatious; if he lost, he disappeared completely for several days, after which he reappeared with a pale face and thinner person, but with money in his purse.
As to Aramis, he never played. He was the worst Musketeer and the most unconvivial companion imaginable. He had always something or other to do. Sometimes in the midst of dinner, when everyone, under the attraction of wine and in the warmth of conversation, believed they had two or three hours longer to enjoy themselves at table, Aramis looked at his watch, arose with a bland smile, and took leave of the company, to go, as he said, to consult a casuist with whom he had an appointment. At other times he would return home to write a treatise, and requested his friends not to disturb him.
At this Athos would smile, with his charming, melancholy smile, which so became his noble countenance, and Porthos would drink, swearing that Aramis would never be anything but a village curé.
Planchet, D’Artagnan’s valet, supported his good fortune nobly. He received thirty sous per day, and for a month he returned to his lodgings gay as a chaffinch, and affable toward his master. When the wind of adversity began to blow upon the housekeeping of the Rue des Fossoyeurs-that is to say, when the forty pistoles of King Louis XIII. were consumed or nearly so-he commenced complaints which Athos thought nauseous, Porthos indecent, and Aramis ridiculous. Athos counseled D’Artagnan to dismiss the fellow; Porthos was of the opinion that he should give him a good thrashing first; and Aramis contended that a master should never attend to anything but the civilities paid to him.
“This is all very easy for you to say,” replied D’Artagnan, “for you, Athos, who live like a dumb man with Grimaud, who forbid him to speak, and consequently never exchange ill words with him; for you, Porthos, who carry matters in such a magnificent style, and are a god to your valet, Mousqueton; and for you, Aramis, who, always abstracted by your theological studies, inspire your servant, Bazin, a mild, religious man, with a profound respect; but for me, who am without any settled means and without resources-for me, who am neither a Musketeer nor even a Guardsman, what am I to do to inspire either the affection, the terror, or the respect in Planchet?”
“This is serious,” answered the three friends; “it is a family affair. It is with valets as with wives, they must be placed at once upon the footing in which you wish them to remain. Reflect upon it.”
D’Artagnan did reflect, and resolved to thrash Planchet provisionally; which he did with the conscientiousness that D’Artagnan carried into everything. After having well beaten him, he forbade him to leave his service without his permission. “For,” added he, “the future cannot fail to mend; I inevitably look for better times. Your fortune is therefore made if you remain with me, and I am too good a master to allow you to miss such a chance by granting you the dismissal you require.”
This manner of acting roused much respect for D’Artagnan’s policy among the Musketeers. Planchet was equally seized with admiration, and said no more about going away.
The life of the four young men had become fraternal. D’Artagnan, who had no settled habits of his own, as he came from his province into the midst of a world quite new to him, fell easily into the habits of his friends.
They rose about eight o’clock in the winter, about six in summer, and went to take the countersign and see how things went on at M. de Tréville’s. D’Artagnan, although he was not a Musketeer, performed the duty of one with remarkable punctuality. He went on guard because he always kept company with whoever of his friends was on duty. He was well known at the Hôtel of the Musketeers, where everyone considered him a good comrade. M. de Tréville, who had appreciated him at the first glance and who bore him a real affection, never ceased recommending him to the king.
On their side, the three Musketeers were much attached to their young comrade. The friendship which united these four men, and the need they felt of seeing another three or four times a day, whether for dueling, business, or pleasure, caused them to be continually running after one another like shadows; and the Inseparables were constantly to be met with seeking one another, from the Luxembourg to the Place St. Sulpice, or from the Rue du Vieux-Colombier to the Luxembourg.
In the meanwhile the promises of M. de Tréville went on prosperously. One fine morning the king commanded M. de Chevalier Dessessart to admit D’Artagnan as a cadet in his company of Guards. D’Artagnan, with a sigh, donned his uniform, which he would have exchanged for that of a Musketeer at the expense of ten years of his existence. But M. de Tréville promised this favor after a novitiate of two years-a novitiate which might besides be abridged if an opportunity should present itself for D’Artagnan to render the king any signal service, or to distinguish himself by some brilliant action. Upon this promise D’Artagnan withdrew, and the next day he began service.
Then it became the turn of Athos, Porthos, and Aramis to mount guard with D’Artagnan when he was on duty. The company of M. le Chevalier Dessessart thus received four instead of one when it admitted D’Artagnan.