Chương 27. VỢ CỦA ATHOS
"Giờ thì chúng ta phải đi tìm Athos thôi," D'Artagnan hồ hởi lên tiếng với Aramis. Cậu vừa kể cho anh nghe mọi chuyện xảy ra từ lúc họ rời thủ đô, và một bữa tối thịnh soạn đã đủ để khiến người này tạm gác lại bài luận thần học, còn người kia thì quên đi bao nhọc nhằn vất vả.
"Vậy cậu cho rằng có chuyện chẳng lành đã xảy đến với anh ấy ư?" Aramis hỏi. "Athos vốn cực kỳ điềm tĩnh, dũng cảm và sở hữu một kỹ năng kiếm thuật điêu luyện cơ mà."
"Hẳn nhiên là vậy. Không ai đánh giá cao lòng can đảm và kỹ năng của Athos hơn tôi; nhưng thà nghe tiếng kiếm của mình chạm vào những mũi giáo còn hơn là gậy gộc. Tôi e rằng anh ấy có thể đã bị đám người hầu đánh gục. Bọn chúng ra đòn thô bạo và chẳng biết điểm dừng là gì. Chính vì vậy, tôi muốn lên đường càng sớm càng tốt."
"Tôi sẽ gắng gượng đi cùng cậu," Aramis đáp, "dù tôi cảm thấy mình không còn đủ sức nheo lên lưng ngựa. Hôm qua, tôi đã định dùng thử sợi dây roi thừng treo trên tường kia, nhưng cơn đau đã ngăn tôi tiếp tục bài tập hành xác sùng đạo đó."
"Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói có người định chữa vết thương do đạn súng bằng roi da chín đuôi đấy; nhưng anh đang ốm, và bệnh tật thường khiến con người ta lú lẫn, nên anh có thể được lượng thứ."
"Thế cậu định khi nào thì lên đường?"
"Ngay lúc rạng đông ngày mai. Đêm nay anh hãy ngủ một giấc thật say, và sáng mai, nếu sức khỏe cho phép, chúng ta sẽ cùng nhau khởi hành."
"Vậy thì hẹn cậu ngày mai," Aramis đáp lời; "bởi dù cậu có được đúc bằng sắt thép đi chăng nữa thì cậu cũng cần phải nghỉ ngơi."
Sáng hôm sau, khi D'Artagnan bước vào phòng của Aramis, cậu đã thấy anh đang đứng chống tay bên bậu cửa sổ.
"Anh đang nhìn gì thế?" D'Artagnan lên tiếng hỏi.
"Chúa ơi! Tôi đang chiêm ngưỡng ba con tuấn mã tuyệt đẹp mà đám nài ngựa đang dắt đi dạo vòng quanh. Chắc hẳn chỉ có bậc vương giả mới có được thú vui cưỡi trên những con ngựa oai phong đến thế."
"Chà, Aramis bạn mến thương ơi, anh cũng có thể tận hưởng thú vui đó, vì một trong ba con tuấn mã ấy là của anh đấy."
"Ồ, đừng đùa nữa! Con nào cơ chứ?"
"Bất cứ con nào trong số ba con mà anh thích, tôi chẳng hề thiên vị con nào đâu."
"Và cả bộ yên cương lộng lẫy kia, cũng là của tôi luôn sao?"
"Không còn nghi ngờ gì nữa."
"Cậu lại đùa đấy à, D'Artagnan."
"Không đâu, tôi đã ngừng đùa cợt kể từ lúc anh bắt đầu nói tiếng Pháp rồi."
"Cái gì, những chiếc bao súng tuyệt đẹp kia, lớp nhung bọc êm ái, chiếc yên ngựa nạm bạc rực rỡ đó - tất cả đều là của tôi sao?"
"Dành cho anh và không ai khác, bởi con ngựa đang cào móng xuống đất kia là của tôi, còn con đang cất tiếng hí vang trời nọ, thuộc về Athos."
"Chết tiệt thật! Cả ba đều là những con vật tuyệt đỉnh!"
"Tôi rất vui vì anh thấy ưng ý."
"Chà, hẳn là đích thân nhà vua đã ban tặng cậu một món quà hậu hĩnh như vậy."
"Chắc chắn không phải là Hồng y rồi; nhưng anh đừng bận tâm xem chúng từ đâu đến, chỉ cần biết một trong ba con đã thuộc quyền sở hữu của anh."
"Tôi chọn con mà cậu bé tóc đỏ kia đang dắt."
"Nó là của anh rồi đấy!"
"Lạy Chúa lòng lành! Thế là quá đủ để xua tan mọi đau đớn trong tôi rồi; tôi có thể cưỡi nó ngay cả khi đang mang ba mươi viên đạn trong người. Thề có linh hồn tôi, những chiếc bàn đạp kia mới đẹp làm sao! Này, Bazin, lại đây mau."
Bazin lững thững xuất hiện ở ngưỡng cửa, trông ông ta đờ đẫn và thiếu hẳn sức sống.
"Mệnh lệnh cuối cùng đó e là thừa thãi," D'Artagnan ngắt lời; "trong bao súng của anh vốn đã có sẵn súng lục được nạp đạn rồi."
Bazin buông một tiếng thở dài thườn thượt.
"Thôi nào, ngài Bazin, hãy cởi mở tấm lòng đi," D'Artagnan nói; "con người ở mọi tầng lớp đều có thể đến được với vương quốc của Chúa cơ mà."
"Ngài ấy vốn dĩ đã là một nhà thần học uyên bác đến vậy," Bazin mếu máo, gần như chực trào nước mắt; "ngài ấy có thể trở thành một giám mục, và biết đâu đấy, một hồng y."
"Nhưng Bazin tội nghiệp của tôi ơi, ông hãy ngẫm lại một chút xem. Trở thành người của nhà thờ thì được ích lợi gì kia chứ? Ông chẳng thể trốn tránh chiến trận bằng cách đó đâu; ông thấy đấy, Hồng y chuẩn bị thân chinh chiến dịch tiếp theo, đầu đội mũ sắt và tay cầm vũ khí. Còn ngài de Nogaret de la Valette, ông tính sao về ngài ấy? Ngài ấy cũng là một hồng y đấy thôi. Hãy đi hỏi tên hầu của ngài ấy xem hắn đã phải chuẩn bị bông băng cho chủ nhân mình bao nhiêu lần rồi."
"Than ôi!" Bazin lại thở dài. "Tôi biết rõ điều đó chứ, thưa ngài; thế giới ngày nay mọi thứ đều đã đảo lộn lùng phèo cả rồi."
Trong khi cuộc đối thoại này đang diễn ra, hai chàng thanh niên và tên hầu tội nghiệp cùng nhau bước xuống lầu.
"Giữ lấy bàn đạp cho ta, Bazin," Aramis ra lệnh; và anh nhảy lên yên ngựa với một vẻ duyên dáng và nhanh nhẹn vốn có, nhưng chỉ sau vài cú phi nước kiệu của con vật cao quý, những cơn đau buốt óc đã ập đến khiến người kỵ sĩ tái mét mặt mày và chao đảo trên lưng ngựa. D'Artagnan, người đã lường trước cơ sự, luôn để mắt đến anh, liền lao tới đỡ lấy bạn mình vào vòng tay rồi cẩn thận dìu anh trở lại phòng.
"Không sao đâu, Aramis bạn mến thương, anh hãy cứ nghỉ ngơi chăm sóc bản thân," cậu an ủi; "tôi sẽ đi tìm Athos một mình vậy."
"Cậu đúng là một con người được đúc bằng đồng thau," Aramis đáp lời.
"Không đâu, tôi chỉ gặp may thôi, có vậy thôi. Nhưng anh dự định sẽ làm gì cho đến lúc tôi quay lại? Sẽ không còn những bài luận, không còn những lời chú giải lằng nhằng về ngón tay hay về những lời ban phước nữa chứ, hả?"
Aramis mỉm cười. "Tôi sẽ làm thơ," anh nhẹ nhàng đáp.
"Phải rồi, tôi dám cá là như vậy; những vần thơ tỏa ngát hương thơm từ bức thư của người hầu gái phục vụ phu nhân de Chevreuse. Hãy dạy cho Bazin luật thơ đi; điều đó hẳn sẽ an ủi ông ta phần nào. Còn về con ngựa, mỗi ngày anh hãy cưỡi nó một chút, việc đó sẽ giúp anh dần làm quen với những sải bước của nó."
"Ồ, cậu cứ yên tâm về chuyện đó," Aramis đáp. "Cậu sẽ thấy tôi hoàn toàn sẵn sàng đồng hành cùng cậu."
Họ vẫy chào tạm biệt nhau, và mười phút sau, khi đã giao phó người bạn mến thương cho sự chăm sóc tận tình của bà chủ quán cùng Bazin, D'Artagnan đã phi ngựa hướng thẳng về phía Amiens.
Làm sao cậu có thể tìm thấy Athos? Liệu cậu có thể tìm lại được anh hay không? Tình thế khi cậu bỏ anh lại thật muôn vàn hung hiểm. Rất có thể anh đã bị kẻ địch khuất phục. Ám ảnh này khiến gương mặt cậu sầm lại, làm cậu buông những tiếng thở dài não nuột và nung nấu ngùn ngụt ngọn lửa báo thù. Trong số tất cả những người bạn vào sinh ra tử, Athos là người lớn tuổi nhất, và dường như cũng là người ít có điểm chung với cậu nhất cả về ngoại hình, sở thích lẫn sự đồng điệu tâm hồn.
Dẫu vậy, D'Artagnan lại dành một sự thiên vị đặc biệt cho vị quý tộc này. Phong thái cao sang và xuất chúng của Athos, những tia sáng vĩ đại thỉnh thoảng lại vụt lóe lên từ bóng tối mà anh tự nguyện giấu mình, sự điềm nhiên bất biến khiến anh trở thành người bạn đồng hành dễ chịu nhất trên đời, nụ cười gượng gạo và đầy vẻ hoài nghi, cùng với lòng can trường có thể bị xem là mù quáng nếu đó không phải là kết tủa của sự bình tĩnh hiếm có nhất - tất cả những phẩm chất tuyệt vời ấy không chỉ khơi dậy sự kính trọng, không chỉ vun đắp tình bạn ở D'Artagnan, mà còn khơi dậy trong cậu một sự ngưỡng mộ sâu sắc.
Quả thực, nếu đem đặt cạnh ngài de Tréville, một vị cận thần vốn nổi danh thanh lịch và cao quý, thì Athos trong những ngày vui vẻ nhất của mình vẫn có thể tự tin giành phần thắng trong một phép so sánh đầy chênh lệch. Dẫu chỉ sở hữu chiều cao bậc trung, nhưng vóc dáng anh lại được nhào nặn tuyệt mỹ và cân đối đến nỗi hơn một lần, trong những cuộc vật lộn đọ sức với Porthos, anh đã quật ngã gã khổng lồ mang sức mạnh thể chất vốn đã hóa thành huyền thoại trong giới Ngự lâm quân. Đầu anh, với đôi mắt tinh anh sắc sảo, sống mũi dọc dừa, chiếc cằm vuông vức tạc như tượng Brutus1, toát lên một nét đặc trưng khó tả, pha trộn giữa sự vĩ đại và nét duyên dáng. Đôi tay anh, dù chẳng mấy khi được chăm chút, lại là nỗi khao khát đầy thất vọng của Aramis - người vẫn thường xuyên dưỡng tay bằng bột hạnh nhân và dầu thơm. Giọng nói của anh không chỉ truyền cảm mà còn vô cùng du dương; và rồi, điều khó tin nhất ở một Athos luôn sống khép kín, chính là sự am hiểu tinh tường về thế giới cũng như về những lề lối phong tục của tầng lớp thượng lưu rực rỡ nhất - phong thái của một bậc quyền quý dường như đã bộc lộ, một cách hoàn toàn vô thức, trong từng cử chỉ nhỏ nhặt nhất của anh.
Giả như có một bữa yến tiệc đang diễn ra, Athos luôn là người chủ tọa xuất sắc hơn bất kỳ ai, khéo léo sắp xếp mỗi vị khách vào đúng vị trí mà tổ tiên họ đã vất vả giành được hoặc do chính họ tự tạo nên. Giả như có một thắc mắc về huy hiệu học được đưa ra, Athos nắm rõ mọi gia tộc danh giá trong vương quốc, từ gia phả, các mối liên minh, huy hiệu cho đến cội nguồn của chúng. Những tiểu tiết cầu kỳ về phép tắc xã giao chẳng có gì là xa lạ đối với anh. Anh rành rẽ những quyền lợi của các điền chủ lớn. Anh đặc biệt am tường nghệ thuật săn bắn và huấn luyện chim ưng, và từng có lần, khi đàm đạo về bộ môn nghệ thuật vĩ đại này, anh đã khiến cho chính đức vua Louis XIII phải sững sờ kinh ngạc, dẫu ngài luôn tự đắc coi mình là một bậc thầy trong lĩnh vực đó.
Cũng giống như mọi quý tộc tầm cỡ thời bấy giờ, Athos sở hữu kỹ nghệ cưỡi ngựa và đấu kiếm đạt mức hoàn hảo. Nhưng tiến xa hơn thế, nền tảng giáo dục của anh không hề bị lơi lỏng, kể cả ở những môn học viện lâm, một điều cực kỳ hiếm hoi đối với các quý tộc đương thời, đến mức anh thường chỉ biết mỉm cười trước những câu tiếng Latinh vụn vặt mà Aramis hay mang ra khoe khoang và Porthos thì tỏ vẻ am hiểu. Thậm chí có đôi ba bận, trước sự ngỡ ngàng tột độ của đám bạn, khi Aramis vô tình mắc phải một lỗi ngữ pháp cơ bản, anh đã bình thản chỉnh lại một động từ về đúng thì và một danh từ vào đúng cách. Hơn thế nữa, sự liêm chính của anh là điều không thể chê trách, nhất là trong một thời đại mà những người lính quá dễ dàng thỏa hiệp với đức tin và lương tâm, những kẻ đang yêu thì sẵn sàng thỏa hiệp với sự tinh tế khắt khe của thời cuộc, còn người nghèo thì dễ dàng bán rẻ Điều răn thứ bảy của Chúa2. Con người Athos, tựu trung lại, là một cá thể vĩ đại cực kỳ phi thường.
Và thế nhưng, cái bản chất vô cùng xuất chúng ấy, sinh linh tuyệt đẹp ấy, thứ tinh hoa thuần khiết ấy, lại đang bị người ta bắt gặp trượt dài trong vô thức về phía sự sa đọa vật chất, hệt như những người già yếu đuối buông mình vào sự suy nhược của cả thể xác lẫn tinh thần. Athos, trong những giờ phút u ám bủa vây - và những giờ phút này lại thường xuyên ngự trị - đã bị dập tắt mọi nguồn sáng bên trong, và khía cạnh rực rỡ chói lòa của anh biến mất tiêu như thể bị nuốt chửng vào một hố sâu tăm tối.
Khi ấy, vị á thần trong anh cũng tan biến; anh gần như không còn giữ được nhân dạng của một con người. Đầu cúi gầm, ánh mắt lờ đờ, giọng nói chậm chạp và khó nhọc, Athos sẽ ngồi hàng giờ liền chỉ để nhìn chằm chằm vào chai rượu, ly rượu của mình, hay đăm đăm nhìn vào Grimaud - kẻ đã quá quen với việc tuân lệnh chủ nhân qua từng cái ra hiệu, kẻ có thể đọc vị được cả những mong muốn nhỏ nhặt nhất trong ánh mắt đục ngầu kia và đáp ứng ngay tắp lự. Nếu bốn người bạn vô tình tụ họp vào một trong những khoảnh khắc ấy, thì một lời nói, thỉnh thoảng được rặn ra với một nỗ lực dữ dội, chính là toàn bộ phần đóng góp của Athos cho cuộc trò chuyện. Để bù đắp lại cho sự câm lặng của mình, Athos uống một lượng rượu đủ cho cả bốn người, và chẳng có vẻ gì là bị hơi men sai khiến ngoại trừ một cái cau mày rõ rệt hơn và một nỗi sầu muộn càng thêm thăm thẳm.
D'Artagnan, vốn mang bản tính tò mò mà chúng ta đều đã rõ, chưa một lần nào - dẫu cho cậu có khao khát được thỏa mãn trí tò mò về chủ đề này đến mức nào - có thể tìm ra bất kỳ cớ sự nào cho những cơn say bí tỉ này, hay chu kỳ lặp lại của chúng. Athos chưa bao giờ nhận được bất kỳ phong thư nào; anh cũng chưa từng có những vướng bận riêng tư mà tất cả bạn bè không hề hay biết.
Không thể nói rằng rượu là ngọn nguồn tạo ra nỗi buồn bã này; bởi thực tế, anh chỉ mượn rượu để chống cự lại nó, dẫu rằng thứ chất lỏng cay nồng ấy, như chúng ta đã nói, chỉ càng tô đậm thêm vẻ u tối. Sự cáu bẳn thừa thãi này cũng không thể đổ lỗi cho thói cờ bạc; bởi lẽ không giống như Porthos, kẻ luôn đệm theo những thăng trầm của vận rủi bằng những bài hát nghêu ngao hay những tràng chửi thề tục tĩu, Athos khi thắng bạc cũng giữ vẻ mặt bất động hệt như khi anh thua sạch túi. Anh từng nổi danh trong giới Ngự lâm quân vì chiến tích thắng liền ba ngàn pistole chỉ trong một đêm; rồi lại thua nhẵn túi đến mức phải đem cầm cố cả chiếc thắt lưng thêu chỉ vàng vốn dành riêng cho những ngày hội hè, để rồi lại thắng lại trọn vẹn số tài sản ấy cộng thêm một trăm louis, mà đôi lông mày tuyệt đẹp của anh chẳng mảy may nhướn lên hay xô lệch dù chỉ là nửa đường nét, đôi tay anh vẫn giữ nguyên sắc trắng ngọc trai, và cuộc trò chuyện của anh, vốn đã rôm rả vào buổi tối hôm đó, vẫn không ngừng giữ được nét điềm tĩnh và dễ chịu.
Cũng chẳng phải, giống như những người hàng xóm người Anh của chúng ta, hay bị sự biến đổi của thời tiết làm cho sầm sì nét mặt; bởi lẽ nỗi buồn của anh nhìn chung lại trở nên cuộn trào dữ dội hơn vào những ngày tháng tươi đẹp nhất trong năm. Tháng sáu và tháng bảy luôn là những tháng ngày giông bão đối với Athos.
Còn ở hiện tại, anh chẳng có gì phải bận lòng. Anh dửng dưng nhún vai mỗi khi có ai đó bàn tán về tương lai. Vậy nên, bí mật của anh chắc hẳn phải bị vùi lấp đâu đó trong quá khứ, như những gì D'Artagnan vẫn thường nghe người ta thì thầm nhắc tới.
Cái bóng bí ẩn này bao trùm lên toàn bộ con người anh, khiến cho người đàn ông này càng trở nên hấp dẫn đến kỳ lạ, một con người mà cả ánh mắt lẫn bờ môi, ngay cả trong những cơn say khướt tận cùng, cũng chưa từng hé lộ nửa lời, mặc cho những câu hỏi dò la có được giăng ra một cách xảo diệu đến mức nào.
"Chà," D'Artagnan thầm nghĩ, "Athos tội nghiệp có khi giờ này đã bỏ mạng rồi, và cái chết ấy hoàn toàn là do lỗi của mình - bởi chính mình là kẻ đã kéo anh ấy vào vũng lầy này, một vụ việc mà anh ấy chẳng hề tường tận nguồn cơn, không màng đến kết cục và cũng chẳng thu lại được chút lợi lộc nào từ đó."
"Đó là còn chưa kể đến việc, thưa ngài," Planchet nói đế thêm vào những dòng suy tư vừa buông thành lời của chủ nhân, "rằng rất có thể chúng ta đang nợ ngài ấy cả mạng sống của mình. Ngài có nhớ cái cách ngài ấy đã hét lên không, 'Đi đi, D'Artagnan, đi đi, tôi bị bắt rồi'? Và khi ngài ấy nã sạch đạn trong hai khẩu súng lục, ngài ấy đã tạo ra một thứ âm thanh chói tai đến rợn người bằng thanh kiếm của mình! Người ta hoàn toàn có thể cho rằng có đến hai mươi người, hay đúng hơn là hai mươi con ác quỷ điên loạn, đang lao vào cấu xé nhau."
Những lời nói ấy như châm thêm dầu vào ngọn lửa nôn nóng trong lòng D'Artagnan, cậu liền quất ngựa phi nước đại, dẫu cho con vật vốn chẳng cần bất kỳ sự thúc giục nào, và họ lao đi vun vút với một tốc độ chóng mặt. Khoảng mười một giờ sáng, bóng dáng thành Amiens đã thấp thoáng hiện ra trước mắt, và lúc mười một giờ rưỡi, họ đã có mặt ngay trước cửa cái quán trọ chết tiệt nọ.
D'Artagnan đã bao bận nung nấu ý định trừng trị gã chủ quán phản trắc, coi đó như một đòn thù đích đáng đủ sức xoa dịu lòng người mỗi khi nghĩ đến. Cậu bước vào quán trọ, chiếc mũ sụp xuống che khuất đôi mắt, tay trái tì lên chuôi kiếm, còn tay phải thì vung vẩy chiếc roi da.
"Ngươi còn nhớ ta không?" cậu hỏi gã chủ quán lúc hắn đang xởi lởi bước tới chào đón.
"Dạ thưa không, tôi chưa có diễm phúc ấy, thưa ngài," hắn đáp lời, đôi mắt hoa lên trước bộ dạng lộng lẫy của D'Artagnan sau chuyến đi dài.
"Sao cơ, ngươi không nhận ra ta ư?"
"Dạ không, thưa ngài."
"Được thôi, vài lời này sẽ khơi lại trí nhớ của ngươi. Khoảng mười hai ngày trước, ngươi đã làm gì với vị quý tộc mà ngươi to gan vu khống là kẻ tiêu tiền giả hả?"
Gã chủ quán tức thì mặt mày trắng bệch như xác chết; bởi thái độ của D'Artagnan lúc này ngùn ngụt sát khí, còn Planchet cũng bắt chước bộ dạng đe dọa của chủ mình.
"Ôi, thưa ngài, xin ngài đừng nhắc lại chuyện đó nữa!" gã chủ quán rên rỉ bằng cái giọng thảm thương hết chỗ nói. "Ôi, thưa ngài, kẻ khốn khổ như tôi đã phải trả một cái giá quá đắt cho sai lầm ấy rồi!"
"Ta hỏi, chuyện gì đã xảy ra với vị quý tộc đó?"
"Xin ngài rủ lòng thương nghe tôi giãi bày! Vì lòng thương xót, xin ngài hãy ngồi xuống đã!"
D'Artagnan, lặng thinh vì vừa giận dữ vừa lo âu, bèn ngồi xuống với tư thế uy nghi, đe dọa như một vị quan tòa. Planchet đứng ngay sau lưng ghế bành của cậu, trừng trừng đôi mắt hung tợn.
"Câu chuyện là thế này, thưa ngài," gã chủ quán run rẩy cất lời; "giờ thì tôi đã nhớ ra ngài rồi. Ngài chính là người đã quất ngựa phóng đi ngay lúc tôi lỡ xảy ra vụ xô xát không may với vị quý tộc mà ngài vừa nhắc tới."
"Đúng, là ta đây; vậy nên ngươi phải tự hiểu rằng sẽ chẳng có sự khoan hồng nào nếu ngươi không chịu khai ra toàn bộ sự thật."
"Cúi xin ngài rủ lòng lắng nghe, ngài sẽ rõ mọi chuyện."
"Ta đang nghe đây."
"Chính quyền có báo trước cho tôi rằng một kẻ đúc tiền giả khét tiếng sắp sửa đến quán trọ này cùng vài tên đồng bọn, tất thảy đều ngụy trang thành lính Vệ binh hoặc Ngự lâm quân. Thưa ngài, họ còn cung cấp cho tôi đặc điểm nhận dạng về những con ngựa, đám người hầu, cũng như diện mạo của ngài - quả thực không bỏ sót một chi tiết nào."
"Tiếp tục đi, nói tiếp đi!" D'Artagnan giục, nhanh chóng đoán ra nguồn cơn của bản mô tả rành rọt đến vậy.
"Do đó, theo lệnh của chính quyền, họ phái đến cho tôi một đội tiếp viện sáu người, và tôi đã triển khai những biện pháp tự nhủ là cần thiết để khống chế đám người bị cho là phường đúc tiền giả ấy."
"Lại nữa!" D'Artagnan quát, hai tai cậu nóng bừng bừng vì giận dữ khi nghe đi nghe lại hai từ tiền giả.
"Kính xin ngài lượng thứ cho những lời lẽ đó, nhưng quả thực đấy là lời bào chữa duy nhất của tôi. Chính quyền đã làm tôi hoảng sợ, và ngài biết đấy, phận làm chủ quán trọ thì luôn phải giữ mối giao hảo với chính quyền."
"Nhưng ta hỏi lại lần nữa, vị quý tộc đó - anh ấy hiện ở đâu? Chuyện gì đã xảy ra với anh ấy? Anh ấy còn sống hay đã chết rồi?"
"Xin ngài cứ bình tâm, tôi xin kể đến đoạn đó ngay đây. Chuyện xảy ra tiếp theo thì ngài đã rõ, và việc ngài vội vã rời đi," gã chủ quán nói thêm, bằng một vẻ sắc sảo không qua mắt được D'Artagnan, "càng khiến cho cớ sự kia trở nên đường hoàng. Vị quý tộc ấy, bạn của ngài, đã chống trả vô cùng tuyệt vọng. Còn gã hầu của ngài ấy, do một sự xui rủi không lường trước được, đã nảy sinh cãi vã với các sĩ quan đang đóng giả làm đám coi ngựa-"
"Tên khốn nạn!" D'Artagnan gầm lên, "thì ra tất cả các người đều thông đồng vào âm mưu này! Và ta thật không hiểu điều gì đang ngăn ta kết liễu mạng chó của tất cả các người đây."
"Than ôi, thưa ngài, chúng tôi đâu có dự phần vào âm mưu đó, rồi ngài sẽ sớm thấy thôi. Thưa ngài bạn của ngài (xin thứ lỗi vì tôi không thể gọi ngài ấy bằng cái tên danh giá mà ngài ấy mang, do chúng tôi chưa được biết), vị quý tộc đó sau khi dùng súng lục bắn hạ hai người, đã tuốt kiếm vừa đánh vừa lui. Nhờ thanh kiếm đó, ngài ấy đã hạ gục thêm một người của tôi, rồi dùng sống kiếm bồi cho tôi một đòn choáng váng."
"Đồ khốn, ngươi có định nói cho trót không hả?" D'Artagnan quát lớn, "Athos - rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra với Athos?"
"Trong lúc vừa đánh vừa lui như tôi đã thưa, ngài ấy phát hiện ra cánh cửa cầu thang dẫn xuống hầm rượu ngay phía sau lưng, và vì cửa đang mở nên ngài ấy liền giật lấy chìa khóa rồi chui tọt vào trong cố thủ. Dù sao cũng nắm chắc ngài ấy ở dưới đó nên chúng tôi đành để mặc ngài ấy."
"Phải rồi," D'Artagnan nói, "các người đâu có ý định lấy mạng; các người chỉ muốn tống giam anh ấy thôi."
"Lạy Chúa tôi! Tống giam ngài ấy ư, thưa ngài? Làm sao có chuyện đó, chính ngài ấy tự nhốt mình đấy chứ, tôi xin thề với ngài là vậy. Trước hết, ngài ấy đã ra tay vô cùng tàn khốc; một người bị giết ngay tại trận, và hai người khác trọng thương. Kẻ chết và hai người bị thương được đồng bọn khiêng đi mất, và từ bấy đến nay tôi bặt vô âm tín về bọn họ. Về phần mình, ngay khi tỉnh lại, tôi liền chạy đến gặp ngài Thống đốc, trình bày ngọn ngành sự việc và xin ý kiến định đoạt về tên tù nhân. Ngài Thống đốc tỏ ra hết sức sững sờ. Ngài ấy bảo chẳng hề hay biết gì về vụ này, những mệnh lệnh tôi nhận được cũng không xuất phát từ ngài ấy, và đe rằng nếu tôi còn to gan dám kéo tên ngài ấy vào vụ náo loạn này, ngài ấy sẽ đem treo cổ tôi. Xem chừng tôi đã rước họa vào thân rồi, thưa ngài, tôi đã bắt nhầm người, và kẻ đáng lẽ tôi phải tóm cổ thì lại trốn thoát mất."
"Nhưng còn Athos!" D'Artagnan kêu lên, sự nôn nóng trong cậu càng bị dồn nén trước thái độ chối bỏ trách nhiệm của chính quyền, "Athos hiện ở đâu?"
"Bởi quá đỗi nóng lòng muốn chuộc lại những lỗi lầm đã gây ra cho tù nhân," gã chủ quán kể tiếp, "tôi bèn đi thẳng xuống hầm rượu để thả tự do cho ngài ấy. Ôi, thưa ngài, ngài ấy không còn là con người nữa, ngài ấy đích thị là một con quỷ! Lọt tai lời đề nghị ân xá của tôi, ngài ấy liền đáp trả rằng đó chỉ là một cái bẫy, và trước khi chịu bước ra, ngài ấy một mực áp đặt những điều kiện của riêng mình. Tôi nhún nhường thưa với ngài ấy - vì đâu thể giấu nhẹm mớ bòng bong mà mình lỡ rước lấy khi lỡ đụng chạm đến một trong những Ngự lâm quân của Bệ hạ - tôi nói với ngài ấy rằng tôi hoàn toàn bằng lòng đáp ứng các điều kiện đó.
"‘Trước tiên,’ ngài ấy phán, ‘ta muốn tên hầu của ta phải được đưa xuống đây cùng ta, trang bị vũ khí tận răng.’ Chúng tôi răm rắp làm theo mệnh lệnh này; vì xin ngài hiểu cho, thưa ngài, chúng tôi luôn sẵn lòng chiều theo mọi ý muốn của bạn ngài. Ngài Grimaud (đấy là cái tên ngài ấy xưng với chúng tôi, dù ngài ấy vốn kiệm lời) - vì vậy, ngài Grimaud đã lê bước xuống hầm rượu, bất chấp thân hình thương tích đầy mình; ngay khi mở cửa cho ngài ấy vào, vị chủ nhân liền lập tức dựng chướng ngại vật chặn kín lối ra, và ra lệnh cho chúng tôi cứ ngoan ngoãn ngồi yên ở quầy rượu."
"Nhưng hiện giờ Athos đang ở đâu?" D'Artagnan hét lên. "Athos đâu?"
"Dưới hầm rượu, thưa ngài."
"Cái gì, đồ khốn! Ngươi dám nhốt anh ấy dưới hầm rượu suốt ngần ấy thời gian sao?"
"Lạy Chúa lòng lành! Không đâu, thưa ngài! Có điên chúng tôi mới nhốt ngài ấy dưới hầm rượu! Ngài chẳng thể tưởng tượng nổi ngài ấy đang làm những gì dưới đó đâu. Ôi! Giá như ngài có thể khuyên nhủ ngài ấy chịu bước ra ngoài, thưa ngài, tôi sẽ hàm ơn ngài đến hết đời mất; tôi sẽ tôn thờ ngài như vị thánh bảo mệnh của mình!"
"Vậy là anh ấy vẫn ở dưới đó chứ? Ta sẽ tìm thấy anh ấy ở dưới đó phải không?"
"Chắc chắn rồi, thưa ngài; ngài ấy khăng khăng cắm rễ dưới đó mà. Mỗi ngày chúng tôi phải dùng một chiếc nĩa dài để tuồn một ít bánh mì qua lỗ thông gió, kèm theo chút thịt mỗi khi ngài ấy yêu cầu; nhưng than ôi! Bánh mì và thịt đâu phải là thứ ngài ấy tiêu thụ ác liệt nhất. Có lần tôi đánh liều mò xuống đó cùng hai tên hầu; nhưng ngài ấy lại nổi trận lôi đình. Tôi nghe rõ mồn một tiếng ngài ấy nạp đạn súng lục, rồi tiếng tên hầu nạp đạn súng kíp lách cách. Khi chúng tôi dè dặt hỏi họ định giở trò gì, vị chủ nhân đanh thép tuyên bố rằng ngài ấy có trong tay bốn mươi viên đạn, và hai thầy trò ngài ấy sẽ nổ súng đến viên cuối cùng trước khi cho phép bất kỳ kẻ nào trong chúng tôi dám đặt chân xuống hầm rượu. Sau bận ấy, tôi chạy đi than phiền với Thống đốc, thì ngài ấy phán xanh rờn rằng tôi chỉ chuốc lấy những gì đáng phải chịu, và coi đó như một bài học nhớ đời về tội xúc phạm những bậc quý tộc danh giá đến trọ tại nhà tôi."
"Vậy là từ lúc đó -" D'Artagnan nói, không tài nào nhịn được cười trước bộ dạng thảm não của gã chủ quán.
"Vâng, từ lúc đó, thưa ngài," gã này mếu máo kể tiếp, "chúng tôi phải nếm trải chuỗi ngày khốn khổ đến không tưởng; vì ngài biết đấy, thưa ngài, toàn bộ lương thực của chúng tôi đều cất dưới hầm rượu. Dưới đó nào là rượu vang đóng chai, rượu vang ủ trong thùng gỗ; rồi bia, dầu ăn, gia vị, thịt xông khói và cả xúc xích nữa. Và bởi đâu có được phép bén mảng xuống đó, chúng tôi đành phải từ chối phục vụ đồ ăn thức uống cho thực khách ghé thăm; cơ ngơi quán trọ cứ thế mà lụn bại dần. Nếu bạn của ngài còn ngoan cố ở lỳ dưới hầm rượu thêm một tuần nữa, tôi chắc chắn sẽ sạt nghiệp mất."
"Như thế mới gọi là công lý chứ, đồ ngốc! Chẳng lẽ ngươi không tinh mắt nhận ra cốt cách của chúng ta thuộc về tầng lớp danh giá, chứ đâu phải phường đúc tiền giả hèn hạ - nói đi?"
"Vâng, thưa ngài, ngài dạy chí phải," gã chủ quán rên rỉ. "Nhưng, ngài nghe kìa, nghe kìa! Lại là ngài ấy đó!"
"Chắc chắn lại có kẻ nào đó làm phiền anh ấy rồi," D'Artagnan đoán.
"Nhưng không làm phiền ngài ấy thì biết tính sao," gã chủ quán kêu lên; "vừa có hai vị quý tộc người Anh đến quán tôi."
"Rồi sao nữa?"
"Thì, người Anh vốn dĩ chuộng rượu ngon, thưa ngài, chắc ngài cũng biết tỏng; những vị này cứ một mực đòi loại rượu hảo hạng nhất. Vợ tôi chừng như đã xuống xin phép ngài Athos vào hầm để lấy rượu thết đãi khách; và ngài ấy, y như mọi bận, lại thẳng thừng cự tuyệt. Ôi, lạy Chúa tôi! Có tiếng la lối ầm ĩ hơn cả mọi khi nữa kìa!"
Quả đúng thế, D'Artagnan loáng thoáng nghe thấy một trận náo động ầm ĩ vọng lên từ hầm rượu. Cậu vụt đứng dậy, rảo bước dẫn đầu, theo sau là gã chủ quán đang xoắn xuýt vò nát hai bàn tay, và Planchet kè kè khẩu súng kíp đã lên nòng sẵn, họ cùng xăm xăm tiến đến hiện trường.
Hai vị quý tộc đang phừng phừng lửa giận; họ vừa trải qua một chặng đường dài vất vả, lại đang đói mềm và khát cháy cổ.
"Rõ là sự bạo ngược không thể dung thứ!" một người trong số họ hét lên, bằng thứ tiếng Pháp cực kỳ chuẩn xác, dẫu vẫn pha chút khẩu âm của người ngoại quốc, "thật lố bịch khi tên điên này dám cấm cản những con người tử tế tiếp cận hầm rượu của chính họ! Thật là vô lý hết sức, mau phá cửa đi, và nếu hắn ta vẫn ngoan cố hóa điên, chà, chúng ta sẽ giết hắn!"
"Xin hãy nương tay thôi, thưa các ngài!" D'Artagnan cất tiếng, đồng thời rút phắt hai khẩu súng lục từ thắt lưng ra, "xin các ngài vui lòng đừng sát hại ai cả!"
"Tốt, tốt lắm!" giọng nói ráo hoảnh của Athos vang lên từ phía bên kia cánh cửa, "cứ để chúng lọt vào đây, lũ ăn thịt trẻ con này, rồi chúng ta sẽ biết tay nhau!"
Dẫu tỏ ra đầy vẻ gan dạ, nhưng hai vị quý tộc người Anh vẫn trao nhau ánh nhìn ngần ngại. Bầu không khí khiến người ta liên tưởng dưới hầm rượu kia đang ẩn nấp một tên yêu tinh khát máu - thứ sinh vật khổng lồ hung hãn trong các truyền thuyết dân gian, kẻ sẵn sàng giáng đòn trừng phạt tàn khốc lên bất cứ ai dám bén mảng tới hang ổ của mình.
Một khoảng lặng bao trùm; nhưng rồi rốt cuộc, hai người Anh cảm thấy lòng tự ái sẽ bị tổn thương ghê gớm nếu chịu lùi bước, thế là người đang phừng phừng lửa giận vội giậm chân lao xuống năm, sáu bậc thang hầm rượu, tung một cú đá sấm sét vào cánh cửa, mạnh tới mức dư sức làm nứt toác cả một bức tường.
"Planchet," D'Artagnan vừa lên cò súng vừa dặn dò, "tôi sẽ xử lý kẻ ở trên; còn anh lo liệu kẻ ở dưới. À há, các ngài, các ngài muốn thượng cẳng chân hạ cẳng tay sao; vậy thì các ngài sẽ được toại nguyện ngay thôi."
"Lạy Chúa!" giọng nói trầm đục của Athos cất lên, "tôi ngỡ mình vừa nghe thấy tiếng D'Artagnan."
"Đúng thế," D'Artagnan cũng sang sảng đáp lời, "tôi đây, bạn của tôi ơi."
"Ồ, tuyệt quá," Athos hí hửng trả lời, "chúng ta sẽ cho bọn phá cửa này một bài học nhớ đời!"
Hai vị quý tộc vội vàng tuốt kiếm, nhưng chợt nhận ra mình đang bị kẹp giữa hai làn đạn. Họ thoáng chút chần chừ; thế nhưng, bản tính kiêu hãnh một lần nữa lại lấn át tất thảy, và một cú đá thứ hai giáng xuống làm cánh cửa nứt toác từ dưới lên trên.
"Đứng dẹp sang một bên, D'Artagnan, tránh đường nào," Athos hét lớn. "Tôi sẽ nổ súng ngay!"
"Thưa các ngài," D'Artagnan hô hoán lên, vốn bản tính cẩn trọng không bao giờ đánh mất sự tỉnh táo, "thưa các ngài, xin hãy cân nhắc kỹ càng những gì mình đang làm. Từ từ đã, Athos! Các ngài đang lao đầu vào một vụ ẩu đả cực kỳ ngu xuẩn đấy; các ngài sẽ bị bắn cho nát tươm như tổ ong mất. Tên hầu của tôi và tôi có sẵn ba phát đạn nhắm thẳng vào các ngài, cộng thêm chừng ấy đạn từ dưới hầm rượu dội lên nữa. Sau đó, các ngài lại phải đọ sức với những thanh kiếm của chúng tôi, mà tôi dám đoan chắc với các ngài rằng, trình độ đấu kiếm của bạn tôi và tôi cũng thuộc hạng thượng thừa đấy. Xin hãy để tôi thu xếp ổn thỏa công việc của các ngài lẫn của chính tôi. Các ngài sẽ sớm có thứ đồ uống hảo hạng; tôi xin lấy danh dự ra hứa với các ngài."
"Nếu như dưới này còn chừa lại giọt nào," giọng nói đầy giễu cợt của Athos làu bàu vọng lên.
Gã chủ quán hoảng vía, mồ hôi lạnh vã ra túa dọc sống lưng.
"Sao cơ! 'Nếu như còn chừa lại giọt nào!'" hắn rên rỉ lẩm bẩm.
"Mẹ kiếp! Chắc chắn là còn dư ối ra," D'Artagnan đáp lời. "Ngài cứ vững tâm đi; hai người này có sức mấy mà nốc cạn cả cái hầm rượu được. Thưa các ngài, xin hãy tra kiếm vào vỏ đi nào."
"Được thôi, miễn là ngài chịu cài lại súng vào thắt lưng đã."
"Rất sẵn lòng."
Nói đoạn, D'Artagnan làm gương thực hiện ngay. Sau đó, quay sang Planchet, cậu ra hiệu cho anh ta từ từ hạ cò súng xuống.
Đám người Anh, phần nào bị thuyết phục bởi những cử chỉ hòa nhã ấy, bèn lầm bầm tuốt kiếm tra lại vào vỏ. Ngọn ngành câu chuyện về vụ giam cầm Athos sau đó được thuật lại tỏ tường cho họ nghe; và vì bản chất họ thực sự là những quý tộc đàng hoàng, họ liền quả quyết gã chủ quán mới chính là kẻ đầu têu có lỗi.
"Nào, bây giờ thì, thưa các ngài," D'Artagnan cất lời, "mời các ngài trở về phòng nghỉ ngơi; và tôi xin lấy danh dự bảm bảo, trong mười phút nữa thôi, các ngài sẽ có tất thảy những gì mình muốn."
Hai người Anh khẽ cúi chào rồi quay bước lên lầu.
"Giờ chỉ có tôi thôi, Athos bạn mến thương," D'Artagnan lên tiếng, "xin anh mở cửa ra."
"Mở ngay đây," Athos đáp.
Kế đó là tiếng ầm ầm của những bó củi bị vứt loảng xoảng, xen lẫn tiếng cột chống kêu răng rắc. Đó chính là những chiến hào và pháo đài do Athos tự tay dựng lên, giờ lại được chính "kẻ bị vây hãm" dỡ bỏ.
Lát sau, cánh cửa đổ nát được dẹp sang một bên. Khuôn mặt nhợt nhạt của Athos ló ra, ánh mắt sắc lẹm lướt nhanh quanh căn phòng.
D'Artagnan lao tới ôm chầm lấy cổ bạn đầy âu yếm. Cậu cố kéo anh ra khỏi chốn trú ngụ ẩm thấp ấy, nhưng rồi chợt giật mình nhận ra Athos đang lảo đảo chực ngã.
"Anh bị thương rồi," cậu thốt lên.
"Tôi á! Không hề. Chẳng qua là say bí tỉ thôi, và dám cá là trên đời này chưa từng có gã đàn ông nào dốc hết sức bình sinh chỉ để say đến nhường này. Lạy Chúa, người chủ quán tốt bụng của tôi ơi! Tính sơ sơ thì tôi cũng phải nốc cạn một trăm rưỡi chai rồi đấy."
"Xin rủ lòng thương!" lão chủ quán tru tréo, "chỉ cần tên hầu uống bằng nửa chủ nó thôi là tôi cũng sạt nghiệp rồi."
"Grimaud là một tên hầu có giáo dục. Hắn chẳng đời nào dám ngang hàng với chủ đâu; hắn chỉ tu trực tiếp từ thùng thôi. Nghe kìa! Hình như hắn chưa khóa vòi lại thì phải. Ngươi có nghe thấy không? Rượu đang chảy róc rách kìa."
D'Artagnan bật cười sảng khoái, nhưng tiếng cười ấy lại biến cơn ớn lạnh của lão chủ quán thành một trận sốt hầm hập.
Cùng lúc đó, đến lượt Grimaud lảo đảo bước ra từ sau lưng chủ. Khẩu súng kíp vắt vẻo trên vai, cái đầu thì cứ lắc lư ngật ngưỡng, trông hắn chẳng khác nào gã thần rừng say xỉn trong mấy bức họa của Rubens3. Từ đầu đến chân hắn đầm đìa một thứ chất lỏng sền sệt mà lão chủ quán đau đớn nhận ra ngay: đó chính là loại dầu ô liu hảo hạng nhất của lão.
Bốn người kéo nhau băng qua phòng khách chung, ngang nhiên tiến vào căn phòng tốt nhất của quán trọ mà D'Artagnan vừa ra oai chiếm giữ.
Trong khi đó, vợ chồng lão chủ quán vội vàng vơ lấy ngọn đèn dầu, ba chân bốn cẳng chạy thẳng xuống hầm rượu - nơi từ lâu đã trở thành "khu vực cấm" với chính họ, để rồi kinh hoàng trước cảnh tượng đang chực chờ.
Ngay sau lớp công sự mà Athos vừa phá bẻ để chui ra-một mớ hỗn độn gồm củi khô, ván gỗ và thùng rỗng được dựng lên theo đúng bài bản chiến thuật binh pháp-họ bàng hoàng tìm thấy những mẩu xương xẩu và vụn dăm bông ăn dở lềnh bềnh trong vũng lầy ngập ngụa dầu và rượu vang. Nguyên một góc trái hầm rượu chìm nghỉm dưới đống mảnh sành chai lọ vỡ vụn. Gần đó, một cái thùng lớn vẫn đang mở toang vòi, ừng ực thổ ra những giọt "máu đỏ" cuối cùng. "Hình ảnh của sự tàn phá và cái chết," đúng như lời một nhà thơ cổ đại từng nói, "đang bao trùm nơi đây hệt như một bãi chiến trường."
Trong số năm mươi khúc xúc xích khổng lồ treo lủng lẳng trên trần, giờ đếm đi đếm lại chưa nổi chục cái.
Tức thì, những tiếng gào khóc thảm thiết của đôi vợ chồng dội vang khắp vòm hầm rượu. Đến D'Artagnan nghe xong cũng phải chạnh lòng. Thế mà Athos vẫn dửng dưng, chẳng thèm ngoái đầu lại.
Uất ức hóa thành cuồng nộ. Lão chủ quán vớ lấy cái xiên thịt làm vũ khí, hùng hổ lao thẳng vào căn phòng mà hai người bạn đang án ngữ.
"Rượu vang!" Athos lên tiếng ngay khi vừa thấy bóng lão.
"Rượu vang!" lão chủ quán sững sờ ré lên. "Lại rượu vang ư? Ngài đã nốc sạch hơn một trăm pistole tiền rượu rồi! Tôi sạt nghiệp mất thôi, mất trắng rồi, trắng tay thật rồi!"
"Chà," Athos nhún vai, "chúng tôi lúc nào chẳng khát."
"Nếu ngài chỉ việc uống thì đã phúc bảy mươi đời; đằng này ngài lại đập nát không còn một cái chai nào."
"Là do ngươi xô ta ngã vào đống chai nên chúng mới vỡ. Lỗi tại ngươi chứ ai."
"Cả chum dầu của tôi cũng đổ sạch sành sanh!"
"Dầu là thứ thuốc mỡ tuyệt hảo để trị thương; và tên Grimaud tội nghiệp của ta đành phải dùng nó để xoa dịu những vết thương do chính tay ngươi đánh hắn đấy."
"Còn đàn xúc xích của tôi thì bị gặm nham nhở hết cả!"
"Trong hầm rượu của ngươi có cả một bầy chuột cống khổng lồ đấy."
"Ngài sẽ phải đền cho tôi tất cả những thứ này!" lão chủ quán phẫn uất gầm lên.
"Cái đồ ngu gấp ba lần này!" Athos nạt lớn rồi vùng đứng dậy, nhưng lại ngã khuỵu xuống ngay tắp lự. Anh chẳng còn chút sức lực nào. Thấy thế, D'Artagnan tay lăm lăm chiếc roi da, liền đứng ra giải vây cho bạn.
Lão chủ quán hoảng sợ lùi lại, bật khóc nức nở.
"Bài học này sẽ dạy cho ngươi," D'Artagnan hăm dọa, "cách tiếp đãi lịch thiệp hơn với những vị khách mà Chúa đã phái đến."
"Chúa ư? Xin ngài hãy nói là ma quỷ thì có!"
"Nghe này lão bạn," D'Artagnan đáp, "nếu ngươi còn cứ quấy rầy bọn ta thế này, cả bốn người bọn ta sẽ kéo xuống nhốt mình dưới hầm rượu nhà ngươi luôn đấy. Để xem thử lúc đó thiệt hại có khủng khiếp như ngươi rống lên không."
"Ôi thưa các ngài," lão chủ quán mếu máo, "tôi sai rồi. Tôi xin nhận lỗi, nhưng lạy các ngài hãy bao dung độ lượng! Các ngài đều là những bậc quý tộc cao sang, còn tôi chỉ là một gã chủ quán nghèo hèn. Cúi xin các ngài rủ lòng thương xót."
"Chà, nếu ngươi chịu mở miệng nói thế từ đầu," Athos chép miệng, "thì có phải ta đã mủi lòng, rồi nước mắt lại tuôn trào như rượu chảy khỏi thùng không. Bọn ta đâu phải đám quỷ dữ như vẻ bề ngoài đâu. Lại gần đây, chúng ta cùng nói chuyện phải trái nào."
Lão chủ quán run rẩy, ngập ngừng rón rén bước tới.
"Ta bảo lại đây thì cứ lại đây, sợ cái gì," Athos tiếp lời. "Lúc ta định trả tiền cho ngươi, ta đã đặt túi tiền của mình lên cái bàn kia."
"Dạ vâng, thưa ngài."
"Trong túi đó có sáu mươi pistole; giờ nó đâu rồi?"
"Dạ đã nộp cho quan tòa mất rồi; ngài ấy bảo đó là tiền giả."
"Tốt lắm; vậy hãy đòi lại cái túi cho ta và ngươi cứ giữ lấy sáu mươi pistole ấy đi."
"Nhưng ngài thừa biết quan tòa một khi đã nuốt vào thì đừng hòng nhả ra mà. Nếu đó là tiền giả thật thì may ra còn có chút hy vọng; ngặt một nỗi, tất cả lại đều là tiền thật một trăm phần trăm."
"Thế thì ngươi liệu mà giải quyết sao cho êm đẹp đi, ông bạn hiền ạ; chuyện đó chẳng can dự gì tới ta nữa, nhất là khi trong túi ta chẳng còn lấy một đồng livre cắc bạc nào."
"Thôi được rồi," D'Artagnan ngắt lời, "chúng ta hãy nói chuyện khác. Con ngựa của Athos đâu rồi?"
"Dạ, đang ở trong chuồng ngựa ạ."
"Con ngựa đó đáng giá bao nhiêu?"
"Nhiều nhặn gì cũng chỉ được năm mươi pistole là kịch kim."
"Nó phải đáng giá tám mươi pistole đấy. Ngươi cứ việc bắt lấy nó, thế là xí xóa mọi chuyện, coi như xong."
"Cái gì cơ?" Athos kêu lên thảng thốt. "Cậu bán ngựa của tôi ư - con ngựa Bajazet yêu quý của tôi sao? Thế thử hỏi tôi sẽ ra trận bằng cái gì; cưỡi trên lưng thằng Grimaud chắc?"
"Tôi đã mang đến cho anh một con khác rồi," D'Artagnan trấn an.
"Một con khác sao?"
"Mà lại là một con ngựa cực phẩm thưa ngài!" lão chủ quán xuýt xoa.
"Chà, nếu đã có một con ngựa khác đẹp mã và sung sức hơn, thì thôi được, ngươi cứ bắt lấy con cũ đi; còn chúng ta, lại uống tiếp nào."
"Gì cơ ạ?" lão chủ quán hỏi lại, mặt mày đã rạng rỡ hẳn lên.
"Lấy một ít rượu ở tít dưới cùng ấy, gần mấy thanh gỗ. Dưới đó vẫn còn hai mươi lăm chai nguyên vẹn; phần còn lại đã bị vỡ tan tành lúc ta ngã rồi. Cứ mang sáu chai trong số đó lên đây trước đã."
"Trời đất quỷ thần ơi, cái lão này là một cái thùng rượu không đáy à!" lão chủ quán lẩm bẩm. "Sòng phẳng mà nói, nếu ngài ấy cứ ở tịt đây nửa tháng, và chịu trả sòng phẳng mọi thứ ngài ấy nốc vào bụng, thì mình khéo lại sớm phất lên như diều gặp gió ấy chứ."
"Và đừng quên," D'Artagnan gọi với theo, "mang lên bốn chai cùng loại cho hai vị quý tộc người Anh kia nữa nhé."
"Và bây giờ," Athos lên tiếng, "trong lúc chờ họ mang rượu lên, hãy nói cho tôi nghe, D'Artagnan, đã có chuyện gì xảy ra với những người khác? Kể đi!"
D'Artagnan bèn kể lại chuyện cậu tìm thấy Porthos đang nằm liệt giường vì bong gân đầu gối, còn Aramis thì đang ngồi vắt óc giữa hai nhà thần học. Cậu vừa dứt lời, gã chủ quán khúm núm bước vào, mang theo chỗ rượu đã gọi cùng một chiếc đùi lợn muối mà may mắn thay cho hắn, đã bị bỏ sót lại bên ngoài hầm rượu.
"Tốt rồi!" Athos cất giọng, tay rót tràn hai ly rượu cho mình và bạn; "Cạn ly vì Porthos và Aramis! Nhưng còn cậu, D'Artagnan, có chuyện gì với cậu vậy? Chuyện gì đã xảy đến với riêng cậu? Trông cậu ủ dột quá."
"Than ôi," D'Artagnan thở dài, "đó là vì tôi là kẻ bất hạnh nhất trần đời."
"Kể tôi nghe xem."
"Lát nữa đã," D'Artagnan ngập ngừng.
"Lát nữa! Sao lại phải lát nữa? Hay cậu nghĩ tôi say rồi? D'Artagnan này, hãy nhớ kỹ: đầu óc tôi chưa bao giờ tỉnh táo bằng lúc tôi đã uống no say. Nói đi, tôi đang dỏng tai lên nghe đây."
D'Artagnan bèn kể lại cuộc phiêu lưu của mình cùng phu nhân Bonacieux. Athos im lặng lắng nghe mà chẳng hề cau mày; và khi cậu dứt lời, anh buông thõng: "Chuyện vặt, chỉ là chuyện vặt vãnh thôi!" Đó vốn là câu cửa miệng yêu thích của anh.
"Anh lúc nào cũng nói chuyện vặt, Athos, bạn mến thương của tôi!" D'Artagnan bất bình, "Và điều đó nghe thật tàn nhẫn khi thốt ra từ miệng anh, một kẻ chưa từng nếm mùi tình ái."
Đôi mắt vốn đang đờ đẫn vì hơi men của Athos chợt lóe lên tia sáng, nhưng chỉ được một thoáng; rồi lại trở về vẻ vô hồn và trống rỗng như trước.
"Đúng vậy," anh đáp lời, giọng điệu dửng dưng, "về phần mình, tôi chưa bao giờ vướng bận ái tình."
"Vậy thì hãy thừa nhận đi, con người sắt đá," D'Artagnan vặn lại, "rằng anh đã sai lầm khi quá đỗi khắt khe với những trái tim đa cảm như chúng tôi."
"Trái tim đa cảm! Trái tim rỉ máu!" Athos mỉa mai.
"Anh nói sao cơ?"
"Tôi nói rằng tình yêu là một canh bạc mà kẻ thắng cuộc, sẽ rước lấy cái chết! Cậu thật may mắn vì đã thua nấc này, hãy tin tôi đi, D'Artagnan thân mến. Và nếu tôi có thể dành cho cậu một lời khuyên, thì đó là: hãy luôn luôn là người thua cuộc!"
"Nhưng nàng có vẻ yêu tôi rất nhiều!"
"Nàng có vẻ, phải thế không?"
"Ôi, nàng thực sự yêu tôi cơ!"
"Đồ trẻ con ngốc nghếch! Chà, chẳng có gã đàn ông nào lại không tự huyễn hoặc bản thân giống như cậu, rằng nhân tình của anh ta yêu anh ta say đắm. Và cũng chẳng có gã đàn ông nào sống trên cõi đời này mà chưa từng bị nhân tình của mình lừa dối."
"Ngoại trừ anh, Athos, người chưa từng có nổi một bóng hồng nào kề cận."
"Đúng vậy," Athos ngậm ngùi sau một thoáng lặng thinh, "đúng là như vậy! Tôi chưa từng có ai hết! Uống đi thôi!"
"Nhưng nếu vậy, thưa nhà triết học," D'Artagnan nài nỉ, "hãy chỉ dạy tôi, hãy nâng đỡ tôi. Tôi đang rất cần một lời khuyên răn và chút ủi an."
"An ủi vì cớ gì?"
"Vì sự bất hạnh của tôi."
"Sự bất hạnh của cậu chả nực cười quá đi chứ," Athos nhún vai; "tôi tò mò không biết cậu sẽ phản ứng ra sao nếu tôi kể cho cậu nghe một bi kịch tình yêu có thật trên đời!"
"Chuyện xảy ra với chính anh ư?"
"Hay một người bạn của tôi, đâu có gì quan trọng?"
"Kể đi, Athos, anh kể đi."
"Tốt hơn là tôi nên uống rượu."
"Vậy thì vừa uống vừa kể."
"Ý kiến không tồi!" Athos gật gù, nốc cạn ly rồi lại rót đầy ắp. "Hai thứ đó quả là cặp bài trùng tuyệt diệu."
"Tôi đang dỏng tai nghe đây," D'Artagnan thúc giục.
Athos cố tĩnh tâm lại, và chính lúc đó, D'Artagnan chợt nhận thấy sắc mặt bạn mình tái nhợt hẳn đi. Anh đang ở vào giai đoạn chếnh choáng mà những gã nát rượu tầm thường hẳn đã ngã vật xuống sàn ngáy pho pho. Thế nhưng anh vẫn đứng thẳng tắp, đôi mắt mơ màng mông lung mà không hề buồn ngủ. Cơn mộng du trong cơn say quắc cần câu này mang một vẻ gì đó thật sự đáng sợ.
"Cậu thực sự muốn nghe chuyện đó đến vậy sao?" anh hỏi.
"Tôi khẩn thiết xin anh đấy," D'Artagnan đáp.
"Vậy thì chiều theo ý cậu. Một người bạn của tôi - xin lưu ý kỹ nhé, một người bạn của tôi, chứ không phải tôi," Athos ngắt quãng lời mình bằng một nụ cười thê thiết, "một trong những vị bá tước quê cùng tỉnh với tôi - tức là tỉnh Berry - mang dòng máu cao quý sánh ngang với gia tộc Dandolo hay Montmorency4, ở cái tuổi hăm lăm đã đem lòng si mê một thiếu nữ vừa tròn mười sáu, mang vẻ đẹp kiều diễm vô ngần. Ẩn sau vẻ ngây thơ của lứa tuổi trăng tròn là một tâm hồn cuồng nhiệt, không phải của một nữ nhi bình thường, mà của một tâm hồn thi sĩ. Nàng không đơn thuần là làm hài lòng người khác; nàng khiến họ say đắm, điên cuồng. Nàng sống trong một thị trấn nhỏ cùng người anh trai, vốn là một linh mục phụ tá. Cả hai đều là những kẻ chân ướt chân ráo mới chuyển đến vùng này. Không một ai hay biết lai lịch của họ; nhưng vì thấy nàng quá đỗi đáng yêu còn anh trai nàng lại vô cùng ngoan đạo, nên chẳng ai buồn gạn hỏi xem họ xuất thân từ chốn nào. Dù vậy, người ta đồn đoán rằng họ cũng thuộc tầng lớp trâm anh thế phiệt. Bạn tôi, với tư cách là lãnh chúa của vùng đất đó, hoàn toàn có thể quyến rũ nàng, hoặc dùng vũ lực chiếm đoạt nàng, tùy theo ý thích - bởi anh ta là kẻ nắm quyền sinh sát. Ai rỗi hơi đi cưu mang hai kẻ lạ nước lạ cái, hai kẻ vô danh tiểu tốt ấy chứ? Khốn nỗi, anh ta lại là một kẻ mù quáng trọng danh dự; thế là anh ta đã cưới nàng làm vợ. Đồ ngốc! Kẻ ngu xuẩn! Thằng đần độn!"
"Sao lại thế, nếu anh ấy đã yêu nàng nhường ấy?" D'Artagnan vội hỏi.
"Cứ bình tĩnh," Athos gạt đi. "Anh ta rước nàng về tòa lâu đài nguy nga, biến nàng thành vị phu nhân quyền quý bậc nhất xứ sở; và phải công nhận rằng, nàng đã hoàn thành vai trò của mình một cách vô cùng trọn vẹn."
"Rồi sao nữa?" D'Artagnan hồi hộp.
"Chà, một ngày nọ khi nàng đang đi săn cùng phu quân," Athos tiếp lời, giọng trầm xuống và nói dồn dập, "nàng bị ngã ngựa và ngất lịm đi. Vị bá tước vội vã lao đến ứng cứu, và vì thấy quần áo bó chẽn khiến nàng khó thở, anh ta đã rút dao găm rạch toạc chúng ra, vô tình để lộ đôi vai trần của nàng. D'Artagnan," Athos cười man dại như một kẻ mất trí, "cậu thử đoán xem trên vai nàng có gì."
"Sao tôi biết được?" D'Artagnan đáp.
"Một bông hoa bách hợp5," Athos gằn từng tiếng. "Nàng đã bị đóng dấu tội nhân."
Athos dốc ngược ly rượu trên tay, nốc cạn một hơi đến giọt cuối cùng.
"Thật kinh khủng!" D'Artagnan thảng thốt kêu lên. "Anh đang kể với tôi chuyện quái quỷ gì vậy?"
"Sự thật đấy, bạn của tôi. Thiên thần hóa ra lại là ác quỷ đội lốt; cô gái trẻ tội nghiệp ngây thơ ấy thực chất là kẻ đã đánh cắp thánh khí từ một tu viện."
"Vậy vị bá tước đã làm gì?"
"Vị bá tước ấy thuộc tầng lớp quý tộc thượng lưu mang đặc quyền cao nhất. Anh ta có quyền sinh sát đối với mọi sinh mạng trên lãnh địa của mình. Anh ta xé toạc chiếc váy của vị nữ bá tước phu nhân; anh ta trói ngoặt tay nàng ra sau lưng, và treo cổ nàng lủng lẳng trên một cành cây."
"Trời đất ơi, Athos, một vụ giết người ư?" D'Artagnan kinh hãi thốt lên.
"Chẳng khác gì thế đâu," Athos thì thầm, mặt tái mét như một cái xác không hồn. "Nhưng tôi nghĩ tôi cần chút hơi men!" Nói đoạn, anh chộp lấy cổ chai rượu cuối cùng, kề thẳng lên miệng, nốc một hơi cạn sạch sành sanh như thể đó chỉ là một ngụm nước lã.
Rồi anh gục đầu vào hai bàn tay ôm mặt, mặc cho D'Artagnan đứng sững sờ trân trối trước mặt anh.
"Cú sốc đó đã chữa khỏi cho tôi căn bệnh mù quáng về những bóng hồng xinh đẹp, thi vị và biết yêu," Athos cất lời sau một hồi im lặng vắng lặng, anh ngẩng đầu lên, quên béng việc phải duy trì câu chuyện bịa đặt về vị bá tước nọ. "Cầu Chúa cũng ban cho cậu một liều thuốc giải tương tự! Nào, uống đi thôi."
"Vậy là nàng đã chết thật sao?" D'Artagnan lắp bắp.
"Parbleu!6 Còn phải hỏi!" Athos chậc lưỡi. "Nhưng hãy đưa ly của cậu đây xem nào. Xơi chút đùi lợn muối đi, chàng trai trẻ, nếu không chúng ta chẳng thể nào nuốt trôi nổi chỗ rượu này đâu."
"Còn anh trai nàng thì sao?" D'Artagnan rụt rè gạn hỏi thêm.
"Anh trai nàng á?" Athos nhướn mày.
"Vâng, vị linh mục ấy."
"Ồ, tôi đã cất công săn lùng tung tích của hắn với mục đích treo cổ hắn lên nốt cho đủ bộ; nhưng hắn đã nhanh chân chuồn trước tôi một bước, hắn đã từ bỏ giáo xứ ngay từ đêm hôm trước rồi."
"Người ta có bao giờ điều tra ra tung tích của gã khốn nạn ấy không?"
"Hắn ta chắc mẩm là tình nhân đầu tiên kiêm luôn đồng phạm của phu nhân xinh đẹp nọ. Thật là một trang nam tử đáng đồng tiền bát gạo, kẻ đã trơ trẽn khoác áo linh mục cốt chỉ để dàn xếp gả bán nhân tình của mình và bảo đảm cho nàng một chốn dung thân yên ấm. Hắn ta hẳn đã bị treo cổ rồi mang đi lăng trì phanh thây, tôi hy vọng là vậy."
"Lạy Chúa lòng lành! Lạy Chúa tôi!" D'Artagnan rên rỉ, hoàn toàn choáng váng trước những tình tiết của chuỗi bi kịch kinh hoàng này.
"Nếm chút thịt lợn muối này đi, D'Artagnan; ngon tuyệt cú mèo đấy," Athos điềm nhiên nói, cắt một lát mỏng rồi gắp bỏ vào đĩa của chàng thanh niên.
"Thật tiếc đứt ruột vì dưới hầm chỉ còn sót lại vỏn vẹn bốn cái đùi lợn thế này. Với mồi ngon nhường này, tôi có thể nốc cạn thêm năm mươi chai rượu nữa."
D'Artagnan không sao chịu đựng thêm được nữa cuộc trò chuyện vừa khiến cậu bàng hoàng tột độ này. Cậu gục đầu vào hai bàn tay, vờ như đang say ngủ.
"Đám thanh niên trẻ tuổi thời nay tửu lượng thật kém cỏi," Athos lẩm bẩm, ném cho cậu một cái nhìn đầy thương hại, "dẫu cho đây đã là một trong những kẻ tài cán nhất cõi đời rồi đấy!"
-
Marcus Junius Brutus là một chính trị gia La Mã cổ đại nổi tiếng, người từng tham gia ám sát Julius Caesar. Tượng của ông thường có khuôn mặt góc cạnh, cằm vuông vức, biểu tượng cho sự cương nghị và cứng rắn. ↩
-
Trong Kinh Thánh (Công giáo), Điều răn thứ bảy là 'Chớ lấy của người', nghiêm cấm hành vi trộm cắp, cướp đoạt hoặc chiếm đoạt tài sản của người khác một cách bất chính. ↩
-
Peter Paul Rubens (1577-1640) là một họa sĩ vĩ đại người xứ Flanders. Các bức tranh của ông thường mang phong cách Baroque đặc trưng với những chuyển động mạnh mẽ và các nhân vật thần thoại (như thần rừng say xỉn) được khắc họa vô cùng sống động. ↩
-
Dandolo là một gia tộc quý tộc quyền lực bậc nhất ở Cộng hòa Venice (Ý), còn Montmorency là một trong những gia tộc danh giá và quyền lực nhất của nước Pháp. Việc so sánh này ngụ ý xuất thân cực kỳ quyền quý. ↩
-
Hoa bách hợp (fleur-de-lis) vốn là biểu tượng của hoàng gia Pháp. Tuy nhiên, thời bấy giờ, chính quyền Pháp dùng một thanh sắt nung đỏ có hình hoa bách hợp để đóng dấu lên vai những kẻ phạm tội hình sự nghiêm trọng nhằm bêu hiếu và đánh dấu vĩnh viễn, tước đi danh dự của họ. ↩
-
Một thán từ thông dụng trong tiếng Pháp cổ, mang nghĩa 'Chắc chắn rồi!' hoặc 'Chúa ơi!'. Đây là cách nói trại đi của cụm từ 'Par Dieu' (Vì Chúa) để tránh phạm thượng đến danh Chúa. ↩
Chapter XXVII. THE WIFE OF ATHOS
We have now to search for Athos,” said D’Artagnan to the vivacious Aramis, when he had informed him of all that had passed since their departure from the capital, and an excellent dinner had made one of them forget his thesis and the other his fatigue.
“Do you think, then, that any harm can have happened to him?” asked Aramis. “Athos is so cool, so brave, and handles his sword so skillfully.”
“No doubt. Nobody has a higher opinion of the courage and skill of Athos than I have; but I like better to hear my sword clang against lances than against staves. I fear lest Athos should have been beaten down by serving men. Those fellows strike hard, and don’t leave off in a hurry. This is why I wish to set out again as soon as possible.”
“I will try to accompany you,” said Aramis, “though I scarcely feel in a condition to mount on horseback. Yesterday I undertook to employ that cord which you see hanging against the wall, but pain prevented my continuing the pious exercise.”
“That’s the first time I ever heard of anybody trying to cure gunshot wounds with cat-o’-nine-tails; but you were ill, and illness renders the head weak, therefore you may be excused.”
“When do you mean to set out?”
“Tomorrow at daybreak. Sleep as soundly as you can tonight, and tomorrow, if you can, we will take our departure together.”
“Till tomorrow, then,” said Aramis; “for iron-nerved as you are, you must need repose.”
The next morning, when D’Artagnan entered Aramis’s chamber, he found him at the window.
“What are you looking at?” asked D’Artagnan.
“My faith! I am admiring three magnificent horses which the stable boys are leading about. It would be a pleasure worthy of a prince to travel upon such horses.”
“Well, my dear Aramis, you may enjoy that pleasure, for one of those three horses is yours.”
“Ah, bah! Which?”
“Whichever of the three you like, I have no preference.”
“And the rich caparison, is that mine, too?”
“Without doubt.”
“You laugh, D’Artagnan.”
“No, I have left off laughing, now that you speak French.”
“What, those rich holsters, that velvet housing, that saddle studded with silver-are they all for me?”
“For you and nobody else, as the horse which paws the ground is mine, and the other horse, which is caracoling, belongs to Athos.”
“Peste! They are three superb animals!”
“I am glad they please you.”
“Why, it must have been the king who made you such a present.”
“Certainly it was not the cardinal; but don’t trouble yourself whence they come, think only that one of the three is your property.”
“I choose that which the red-headed boy is leading.”
“It is yours!”
“Good heaven! That is enough to drive away all my pains; I could mount him with thirty balls in my body. On my soul, handsome stirrups! Holà, Bazin, come here this minute.”
Bazin appeared on the threshold, dull and spiritless.
“That last order is useless,” interrupted D’Artagnan; “there are loaded pistols in your holsters.”
Bazin sighed.
“Come, Monsieur Bazin, make yourself easy,” said D’Artagnan; “people of all conditions gain the kingdom of heaven.”
“Monsieur was already such a good theologian,” said Bazin, almost weeping; “he might have become a bishop, and perhaps a cardinal.”
“Well, but my poor Bazin, reflect a little. Of what use is it to be a churchman, pray? You do not avoid going to war by that means; you see, the cardinal is about to make the next campaign, helm on head and partisan in hand. And Monsieur de Nogaret de la Valette, what do you say of him? He is a cardinal likewise. Ask his lackey how often he has had to prepare lint of him.”
“Alas!” sighed Bazin. “I know it, monsieur; everything is turned topsy-turvy in the world nowadays.”
While this dialogue was going on, the two young men and the poor lackey descended.
“Hold my stirrup, Bazin,” cried Aramis; and Aramis sprang into the saddle with his usual grace and agility, but after a few vaults and curvets of the noble animal his rider felt his pains come on so insupportably that he turned pale and became unsteady in his seat. D’Artagnan, who, foreseeing such an event, had kept his eye on him, sprang toward him, caught him in his arms, and assisted him to his chamber.
“That’s all right, my dear Aramis, take care of yourself,” said he; “I will go alone in search of Athos.”
“You are a man of brass,” replied Aramis.
“No, I have good luck, that is all. But how do you mean to pass your time till I come back? No more theses, no more glosses upon the fingers or upon benedictions, hey?”
Aramis smiled. “I will make verses,” said he.
“Yes, I dare say; verses perfumed with the odor of the billet from the attendant of Madame de Chevreuse. Teach Bazin prosody; that will console him. As to the horse, ride him a little every day, and that will accustom you to his maneuvers.”
“Oh, make yourself easy on that head,” replied Aramis. “You will find me ready to follow you.”
They took leave of each other, and in ten minutes, after having commended his friend to the cares of the hostess and Bazin, D’Artagnan was trotting along in the direction of Amiens.
How was he going to find Athos? Should he find him at all? The position in which he had left him was critical. He probably had succumbed. This idea, while darkening his brow, drew several sighs from him, and caused him to formulate to himself a few vows of vengeance. Of all his friends, Athos was the eldest, and the least resembling him in appearance, in his tastes and sympathies.
Yet he entertained a marked preference for this gentleman. The noble and distinguished air of Athos, those flashes of greatness which from time to time broke out from the shade in which he voluntarily kept himself, that unalterable equality of temper which made him the most pleasant companion in the world, that forced and cynical gaiety, that bravery which might have been termed blind if it had not been the result of the rarest coolness-such qualities attracted more than the esteem, more than the friendship of D’Artagnan; they attracted his admiration.
Indeed, when placed beside M. de Tréville, the elegant and noble courtier, Athos in his most cheerful days might advantageously sustain a comparison. He was of middle height; but his person was so admirably shaped and so well proportioned that more than once in his struggles with Porthos he had overcome the giant whose physical strength was proverbial among the Musketeers. His head, with piercing eyes, a straight nose, a chin cut like that of Brutus, had altogether an indefinable character of grandeur and grace. His hands, of which he took little care, were the despair of Aramis, who cultivated his with almond paste and perfumed oil. The sound of his voice was at once penetrating and melodious; and then, that which was inconceivable in Athos, who was always retiring, was that delicate knowledge of the world and of the usages of the most brilliant society-those manners of a high degree which appeared, as if unconsciously to himself, in his least actions.
If a repast were on foot, Athos presided over it better than any other, placing every guest exactly in the rank which his ancestors had earned for him or that he had made for himself. If a question in heraldry were started, Athos knew all the noble families of the kingdom, their genealogy, their alliances, their coats of arms, and the origin of them. Etiquette had no minutiæ unknown to him. He knew what were the rights of the great land owners. He was profoundly versed in hunting and falconry, and had one day when conversing on this great art astonished even Louis XIII. himself, who took a pride in being considered a past master therein.
Like all the great nobles of that period, Athos rode and fenced to perfection. But still further, his education had been so little neglected, even with respect to scholastic studies, so rare at this time among gentlemen, that he smiled at the scraps of Latin which Aramis sported and which Porthos pretended to understand. Two or three times, even, to the great astonishment of his friends, he had, when Aramis allowed some rudimental error to escape him, replaced a verb in its right tense and a noun in its case. Besides, his probity was irreproachable, in an age in which soldiers compromised so easily with their religion and their consciences, lovers with the rigorous delicacy of our era, and the poor with God’s Seventh Commandment. This Athos, then, was a very extraordinary man.
And yet this nature so distinguished, this creature so beautiful, this essence so fine, was seen to turn insensibly toward material life, as old men turn toward physical and moral imbecility. Athos, in his hours of gloom-and these hours were frequent-was extinguished as to the whole of the luminous portion of him, and his brilliant side disappeared as into profound darkness.
Then the demigod vanished; he remained scarcely a man. His head hanging down, his eye dull, his speech slow and painful, Athos would look for hours together at his bottle, his glass, or at Grimaud, who, accustomed to obey him by signs, read in the faint glance of his master his least desire, and satisfied it immediately. If the four friends were assembled at one of these moments, a word, thrown forth occasionally with a violent effort, was the share Athos furnished to the conversation. In exchange for his silence Athos drank enough for four, and without appearing to be otherwise affected by wine than by a more marked constriction of the brow and by a deeper sadness.
D’Artagnan, whose inquiring disposition we are acquainted with, had not-whatever interest he had in satisfying his curiosity on this subject-been able to assign any cause for these fits, or for the periods of their recurrence. Athos never received any letters; Athos never had concerns which all his friends did not know.
It could not be said that it was wine which produced this sadness; for in truth he only drank to combat this sadness, which wine however, as we have said, rendered still darker. This excess of bilious humor could not be attributed to play; for unlike Porthos, who accompanied the variations of chance with songs or oaths, Athos when he won remained as unmoved as when he lost. He had been known, in the circle of the Musketeers, to win in one night three thousand pistoles; to lose them even to the gold-embroidered belt for gala days, win all this again with the addition of a hundred louis, without his beautiful eyebrow being heightened or lowered half a line, without his hands losing their pearly hue, without his conversation, which was cheerful that evening, ceasing to be calm and agreeable.
Neither was it, as with our neighbors, the English, an atmospheric influence which darkened his countenance; for the sadness generally became more intense toward the fine season of the year. June and July were the terrible months with Athos.
For the present he had no anxiety. He shrugged his shoulders when people spoke of the future. His secret, then, was in the past, as had often been vaguely said to D’Artagnan.
This mysterious shade, spread over his whole person, rendered still more interesting the man whose eyes or mouth, even in the most complete intoxication, had never revealed anything, however skillfully questions had been put to him.
“Well,” thought D’Artagnan, “poor Athos is perhaps at this moment dead, and dead by my fault-for it was I who dragged him into this affair, of which he did not know the origin, of which he is ignorant of the result, and from which he can derive no advantage.”
“Without reckoning, monsieur,” added Planchet to his master’s audibly expressed reflections, “that we perhaps owe our lives to him. Do you remember how he cried, ‘On, D’Artagnan, on, I am taken’? And when he had discharged his two pistols, what a terrible noise he made with his sword! One might have said that twenty men, or rather twenty mad devils, were fighting.”
These words redoubled the eagerness of D’Artagnan, who urged his horse, though he stood in need of no incitement, and they proceeded at a rapid pace. About eleven o’clock in the morning they perceived Amiens, and at half past eleven they were at the door of the cursed inn.
D’Artagnan had often meditated against the perfidious host one of those hearty vengeances which offer consolation while they are hoped for. He entered the hostelry with his hat pulled over his eyes, his left hand on the pommel of the sword, and cracking his whip with his right hand.
“Do you remember me?” said he to the host, who advanced to greet him.
“I have not that honor, monseigneur,” replied the latter, his eyes dazzled by the brilliant style in which D’Artagnan traveled.
“What, you don’t know me?”
“No, monseigneur.”
“Well, two words will refresh your memory. What have you done with that gentleman against whom you had the audacity, about twelve days ago, to make an accusation of passing false money?”
The host became as pale as death; for D’Artagnan had assumed a threatening attitude, and Planchet modeled himself after his master.
“Ah, monseigneur, do not mention it!” cried the host, in the most pitiable voice imaginable. “Ah, monseigneur, how dearly have I paid for that fault, unhappy wretch as I am!”
“That gentleman, I say, what has become of him?”
“Deign to listen to me, monseigneur, and be merciful! Sit down, in mercy!”
D’Artagnan, mute with anger and anxiety, took a seat in the threatening attitude of a judge. Planchet glared fiercely over the back of his armchair.
“Here is the story, monseigneur,” resumed the trembling host; “for I now recollect you. It was you who rode off at the moment I had that unfortunate difference with the gentleman you speak of.”
“Yes, it was I; so you may plainly perceive that you have no mercy to expect if you do not tell me the whole truth.”
“Condescend to listen to me, and you shall know all.”
“I listen.”
“I had been warned by the authorities that a celebrated coiner of bad money would arrive at my inn, with several of his companions, all disguised as Guards or Musketeers. Monseigneur, I was furnished with a description of your horses, your lackeys, your countenances-nothing was omitted.”
“Go on, go on!” said D’Artagnan, who quickly understood whence such an exact description had come.
“I took then, in conformity with the orders of the authorities, who sent me a reinforcement of six men, such measures as I thought necessary to get possession of the persons of the pretended coiners.”
“Again!” said D’Artagnan, whose ears chafed terribly under the repetition of this word coiners.
“Pardon me, monseigneur, for saying such things, but they form my excuse. The authorities had terrified me, and you know that an innkeeper must keep on good terms with the authorities.”
“But once again, that gentleman-where is he? What has become of him? Is he dead? Is he living?”
“Patience, monseigneur, we are coming to it. There happened then that which you know, and of which your precipitate departure,” added the host, with an acuteness that did not escape D’Artagnan, “appeared to authorize the issue. That gentleman, your friend, defended himself desperately. His lackey, who, by an unforeseen piece of ill luck, had quarreled with the officers, disguised as stable lads-”
“Miserable scoundrel!” cried D’Artagnan, “you were all in the plot, then! And I really don’t know what prevents me from exterminating you all.”
“Alas, monseigneur, we were not in the plot, as you will soon see. Monsieur your friend (pardon for not calling him by the honorable name which no doubt he bears, but we do not know that name), Monsieur your friend, having disabled two men with his pistols, retreated fighting with his sword, with which he disabled one of my men, and stunned me with a blow of the flat side of it.”
“You villain, will you finish?” cried D’Artagnan, “Athos-what has become of Athos?”
“While fighting and retreating, as I have told Monseigneur, he found the door of the cellar stairs behind him, and as the door was open, he took out the key, and barricaded himself inside. As we were sure of finding him there, we left him alone.”
“Yes,” said D’Artagnan, “you did not really wish to kill; you only wished to imprison him.”
“Good God! To imprison him, monseigneur? Why, he imprisoned himself, I swear to you he did. In the first place he had made rough work of it; one man was killed on the spot, and two others were severely wounded. The dead man and the two wounded were carried off by their comrades, and I have heard nothing of either of them since. As for myself, as soon as I recovered my senses I went to Monsieur the Governor, to whom I related all that had passed, and asked, what I should do with my prisoner. Monsieur the Governor was all astonishment. He told me he knew nothing about the matter, that the orders I had received did not come from him, and that if I had the audacity to mention his name as being concerned in this disturbance he would have me hanged. It appears that I had made a mistake, monsieur, that I had arrested the wrong person, and that he whom I ought to have arrested had escaped.”
“But Athos!” cried D’Artagnan, whose impatience was increased by the disregard of the authorities, “Athos, where is he?”
“As I was anxious to repair the wrongs I had done the prisoner,” resumed the innkeeper, “I took my way straight to the cellar in order to set him at liberty. Ah, monsieur, he was no longer a man, he was a devil! To my offer of liberty, he replied that it was nothing but a snare, and that before he came out he intended to impose his own conditions. I told him very humbly-for I could not conceal from myself the scrape I had got into by laying hands on one of his Majesty’s Musketeers-I told him I was quite ready to submit to his conditions.
“‘In the first place,’ said he, ‘I wish my lackey placed with me, fully armed.’ We hastened to obey this order; for you will please to understand, monsieur, we were disposed to do everything your friend could desire. Monsieur Grimaud (he told us his name, although he does not talk much)-Monsieur Grimaud, then, went down to the cellar, wounded as he was; then his master, having admitted him, barricaded the door afresh, and ordered us to remain quietly in our own bar.”
“But where is Athos now?” cried D’Artagnan. “Where is Athos?”
“In the cellar, monsieur.”
“What, you scoundrel! Have you kept him in the cellar all this time?”
“Merciful heaven! No, monsieur! We keep him in the cellar! You do not know what he is about in the cellar. Ah! If you could but persuade him to come out, monsieur, I should owe you the gratitude of my whole life; I should adore you as my patron saint!”
“Then he is there? I shall find him there?”
“Without doubt you will, monsieur; he persists in remaining there. We every day pass through the air hole some bread at the end of a fork, and some meat when he asks for it; but alas! It is not of bread and meat of which he makes the greatest consumption. I once endeavored to go down with two of my servants; but he flew into terrible rage. I heard the noise he made in loading his pistols, and his servant in loading his musketoon. Then, when we asked them what were their intentions, the master replied that he had forty charges to fire, and that he and his lackey would fire to the last one before he would allow a single soul of us to set foot in the cellar. Upon this I went and complained to the governor, who replied that I only had what I deserved, and that it would teach me to insult honorable gentlemen who took up their abode in my house.”
“So that since that time-” replied D’Artagnan, totally unable to refrain from laughing at the pitiable face of the host.
“So from that time, monsieur,” continued the latter, “we have led the most miserable life imaginable; for you must know, monsieur, that all our provisions are in the cellar. There is our wine in bottles, and our wine in casks; the beer, the oil, and the spices, the bacon, and sausages. And as we are prevented from going down there, we are forced to refuse food and drink to the travelers who come to the house; so that our hostelry is daily going to ruin. If your friend remains another week in my cellar I shall be a ruined man.”
“And not more than justice, either, you ass! Could you not perceive by our appearance that we were people of quality, and not coiners-say?”
“Yes, monsieur, you are right,” said the host. “But, hark, hark! There he is!”
“Somebody has disturbed him, without doubt,” said D’Artagnan.
“But he must be disturbed,” cried the host; “Here are two English gentlemen just arrived.”
“Well?”
“Well, the English like good wine, as you may know, monsieur; these have asked for the best. My wife has perhaps requested permission of Monsieur Athos to go into the cellar to satisfy these gentlemen; and he, as usual, has refused. Ah, good heaven! There is the hullabaloo louder than ever!”
D’Artagnan, in fact, heard a great noise on the side next the cellar. He rose, and preceded by the host wringing his hands, and followed by Planchet with his musketoon ready for use, he approached the scene of action.
The two gentlemen were exasperated; they had had a long ride, and were dying with hunger and thirst.
“But this is tyranny!” cried one of them, in very good French, though with a foreign accent, “that this madman will not allow these good people access to their own wine! Nonsense, let us break open the door, and if he is too far gone in his madness, well, we will kill him!”
“Softly, gentlemen!” said D’Artagnan, drawing his pistols from his belt, “you will kill nobody, if you please!”
“Good, good!” cried the calm voice of Athos, from the other side of the door, “let them just come in, these devourers of little children, and we shall see!”
Brave as they appeared to be, the two English gentlemen looked at each other hesitatingly. One might have thought there was in that cellar one of those famished ogres-the gigantic heroes of popular legends, into whose cavern nobody could force their way with impunity.
There was a moment of silence; but at length the two Englishmen felt ashamed to draw back, and the angrier one descended the five or six steps which led to the cellar, and gave a kick against the door enough to split a wall.
“Planchet,” said D’Artagnan, cocking his pistols, “I will take charge of the one at the top; you look to the one below. Ah, gentlemen, you want battle; and you shall have it.”
“Good God!” cried the hollow voice of Athos, “I can hear D’Artagnan, I think.”
“Yes,” cried D’Artagnan, raising his voice in turn, “I am here, my friend.”
“Ah, good, then,” replied Athos, “we will teach them, these door breakers!”
The gentlemen had drawn their swords, but they found themselves taken between two fires. They still hesitated an instant; but, as before, pride prevailed, and a second kick split the door from bottom to top.
“Stand on one side, D’Artagnan, stand on one side,” cried Athos. “I am going to fire!”
“Gentlemen,” exclaimed D’Artagnan, whom reflection never abandoned, “gentlemen, think of what you are about. Patience, Athos! You are running your heads into a very silly affair; you will be riddled. My lackey and I will have three shots at you, and you will get as many from the cellar. You will then have our swords, with which, I can assure you, my friend and I can play tolerably well. Let me conduct your business and my own. You shall soon have something to drink; I give you my word.”
“If there is any left,” grumbled the jeering voice of Athos.
The host felt a cold sweat creep down his back.
“How! ‘If there is any left!’” murmured he.
“What the devil! There must be plenty left,” replied D’Artagnan. “Be satisfied of that; these two cannot have drunk all the cellar. Gentlemen, return your swords to their scabbards.”
“Well, provided you replace your pistols in your belt.”
“Willingly.”
And D’Artagnan set the example. Then, turning toward Planchet, he made him a sign to uncock his musketoon.
The Englishmen, convinced of these peaceful proceedings, sheathed their swords grumblingly. The history of Athos’s imprisonment was then related to them; and as they were really gentlemen, they pronounced the host in the wrong.
“Now, gentlemen,” said D’Artagnan, “go up to your room again; and in ten minutes, I will answer for it, you shall have all you desire.”
The Englishmen bowed and went upstairs.
“Now I am alone, my dear Athos,” said D’Artagnan; “open the door, I beg of you.”
“Instantly,” said Athos.
Then was heard a great noise of fagots being removed and of the groaning of posts; these were the counterscarps and bastions of Athos, which the besieged himself demolished.
An instant after, the broken door was removed, and the pale face of Athos appeared, who with a rapid glance took a survey of the surroundings.
D’Artagnan threw himself on his neck and embraced him tenderly. He then tried to draw him from his moist abode, but to his surprise he perceived that Athos staggered.
“You are wounded,” said he.
“I! Not at all. I am dead drunk, that’s all, and never did a man more strongly set about getting so. By the Lord, my good host! I must at least have drunk for my part a hundred and fifty bottles.”
“Mercy!” cried the host, “if the lackey has drunk only half as much as the master, I am a ruined man.”
“Grimaud is a well-bred lackey. He would never think of faring in the same manner as his master; he only drank from the cask. Hark! I don’t think he put the faucet in again. Do you hear it? It is running now.”
D’Artagnan burst into a laugh which changed the shiver of the host into a burning fever.
In the meantime, Grimaud appeared in his turn behind his master, with the musketoon on his shoulder, and his head shaking. Like one of those drunken satyrs in the pictures of Rubens. He was moistened before and behind with a greasy liquid which the host recognized as his best olive oil.
The four crossed the public room and proceeded to take possession of the best apartment in the house, which D’Artagnan occupied with authority.
In the meantime the host and his wife hurried down with lamps into the cellar, which had so long been interdicted to them and where a frightful spectacle awaited them.
Beyond the fortifications through which Athos had made a breach in order to get out, and which were composed of fagots, planks, and empty casks, heaped up according to all the rules of the strategic art, they found, swimming in puddles of oil and wine, the bones and fragments of all the hams they had eaten; while a heap of broken bottles filled the whole left-hand corner of the cellar, and a tun, the cock of which was left running, was yielding, by this means, the last drop of its blood. “The image of devastation and death,” as the ancient poet says, “reigned as over a field of battle.”
Of fifty large sausages, suspended from the joists, scarcely ten remained.
Then the lamentations of the host and hostess pierced the vault of the cellar. D’Artagnan himself was moved by them. Athos did not even turn his head.
To grief succeeded rage. The host armed himself with a spit, and rushed into the chamber occupied by the two friends.
“Some wine!” said Athos, on perceiving the host.
“Some wine!” cried the stupefied host, “some wine? Why you have drunk more than a hundred pistoles’ worth! I am a ruined man, lost, destroyed!”
“Bah,” said Athos, “we were always dry.”
“If you had been contented with drinking, well and good; but you have broken all the bottles.”
“You pushed me upon a heap which rolled down. That was your fault.”
“All my oil is lost!”
“Oil is a sovereign balm for wounds; and my poor Grimaud here was obliged to dress those you had inflicted on him.”
“All my sausages are gnawed!”
“There is an enormous quantity of rats in that cellar.”
“You shall pay me for all this,” cried the exasperated host.
“Triple ass!” said Athos, rising; but he sank down again immediately. He had tried his strength to the utmost. D’Artagnan came to his relief with his whip in his hand.
The host drew back and burst into tears.
“This will teach you,” said D’Artagnan, “to treat the guests God sends you in a more courteous fashion.”
“God? Say the devil!”
“My dear friend,” said D’Artagnan, “if you annoy us in this manner we will all four go and shut ourselves up in your cellar, and we will see if the mischief is as great as you say.”
“Oh, gentlemen,” said the host, “I have been wrong. I confess it, but pardon to every sin! You are gentlemen, and I am a poor innkeeper. You will have pity on me.”
“Ah, if you speak in that way,” said Athos, “you will break my heart, and the tears will flow from my eyes as the wine flowed from the cask. We are not such devils as we appear to be. Come hither, and let us talk.”
The host approached with hesitation.
“Come hither, I say, and don’t be afraid,” continued Athos. “At the very moment when I was about to pay you, I had placed my purse on the table.”
“Yes, monsieur.”
“That purse contained sixty pistoles; where is it?”
“Deposited with the justice; they said it was bad money.”
“Very well; get me my purse back and keep the sixty pistoles.”
“But Monseigneur knows very well that justice never lets go that which it once lays hold of. If it were bad money, there might be some hopes; but unfortunately, those were all good pieces.”
“Manage the matter as well as you can, my good man; it does not concern me, the more so as I have not a livre left.”
“Come,” said D’Artagnan, “let us inquire further. Athos’s horse, where is that?”
“In the stable.”
“How much is it worth?”
“Fifty pistoles at most.”
“It’s worth eighty. Take it, and there ends the matter.”
“What,” cried Athos, “are you selling my horse-my Bajazet? And pray upon what shall I make my campaign; upon Grimaud?”
“I have brought you another,” said D’Artagnan.
“Another?”
“And a magnificent one!” cried the host.
“Well, since there is another finer and younger, why, you may take the old one; and let us drink.”
“What?” asked the host, quite cheerful again.
“Some of that at the bottom, near the laths. There are twenty-five bottles of it left; all the rest were broken by my fall. Bring six of them.”
“Why, this man is a cask!” said the host, aside. “If he only remains here a fortnight, and pays for what he drinks, I shall soon re-establish my business.”
“And don’t forget,” said D’Artagnan, “to bring up four bottles of the same sort for the two English gentlemen.”
“And now,” said Athos, “while they bring the wine, tell me, D’Artagnan, what has become of the others, come!”
D’Artagnan related how he had found Porthos in bed with a strained knee, and Aramis at a table between two theologians. As he finished, the host entered with the wine ordered and a ham which, fortunately for him, had been left out of the cellar.
“That’s well!” said Athos, filling his glass and that of his friend; “here’s to Porthos and Aramis! But you, D’Artagnan, what is the matter with you, and what has happened to you personally? You have a sad air.”
“Alas,” said D’Artagnan, “it is because I am the most unfortunate.”
“Tell me.”
“Presently,” said D’Artagnan.
“Presently! And why presently? Because you think I am drunk? D’Artagnan, remember this! My ideas are never so clear as when I have had plenty of wine. Speak, then, I am all ears.”
D’Artagnan related his adventure with Mme. Bonacieux. Athos listened to him without a frown; and when he had finished, said, “Trifles, only trifles!” That was his favorite word.
“You always say trifles, my dear Athos!” said D’Artagnan, “and that comes very ill from you, who have never loved.”
The drink-deadened eye of Athos flashed out, but only for a moment; it became as dull and vacant as before.
“That’s true,” said he, quietly, “for my part I have never loved.”
“Acknowledge, then, you stony heart,” said D’Artagnan, “that you are wrong to be so hard upon us tender hearts.”
“Tender hearts! Pierced hearts!” said Athos.
“What do you say?”
“I say that love is a lottery in which he who wins, wins death! You are very fortunate to have lost, believe me, my dear D’Artagnan. And if I have any counsel to give, it is, always lose!”
“She seemed to love me so!”
“She seemed, did she?”
“Oh, she did love me!”
“You child, why, there is not a man who has not believed, as you do, that his mistress loved him, and there lives not a man who has not been deceived by his mistress.”
“Except you, Athos, who never had one.”
“That’s true,” said Athos, after a moment’s silence, “that’s true! I never had one! Let us drink!”
“But then, philosopher that you are,” said D’Artagnan, “instruct me, support me. I stand in need of being taught and consoled.”
“Consoled for what?”
“For my misfortune.”
“Your misfortune is laughable,” said Athos, shrugging his shoulders; “I should like to know what you would say if I were to relate to you a real tale of love!”
“Which has happened to you?”
“Or one of my friends, what matters?”
“Tell it, Athos, tell it.”
“Better if I drink.”
“Drink and relate, then.”
“Not a bad idea!” said Athos, emptying and refilling his glass. “The two things agree marvelously well.”
“I am all attention,” said D’Artagnan.
Athos collected himself, and in proportion as he did so, D’Artagnan saw that he became pale. He was at that period of intoxication in which vulgar drinkers fall on the floor and go to sleep. He kept himself upright and dreamed, without sleeping. This somnambulism of drunkenness had something frightful in it.
“You particularly wish it?” asked he.
“I pray for it,” said D’Artagnan.
“Be it then as you desire. One of my friends-one of my friends, please to observe, not myself,” said Athos, interrupting himself with a melancholy smile, “one of the counts of my province-that is to say, of Berry-noble as a Dandolo or a Montmorency, at twenty-five years of age fell in love with a girl of sixteen, beautiful as fancy can paint. Through the ingenuousness of her age beamed an ardent mind, not of the woman, but of the poet. She did not please; she intoxicated. She lived in a small town with her brother, who was a curate. Both had recently come into the country. They came nobody knew whence; but when seeing her so lovely and her brother so pious, nobody thought of asking whence they came. They were said, however, to be of good extraction. My friend, who was seigneur of the country, might have seduced her, or taken her by force, at his will-for he was master. Who would have come to the assistance of two strangers, two unknown persons? Unfortunately he was an honorable man; he married her. The fool! The ass! The idiot!”
“How so, if he loved her?” asked D’Artagnan.
“Wait,” said Athos. “He took her to his château, and made her the first lady in the province; and in justice it must be allowed that she supported her rank becomingly.”
“Well?” asked D’Artagnan.
“Well, one day when she was hunting with her husband,” continued Athos, in a low voice, and speaking very quickly, “she fell from her horse and fainted. The count flew to her to help, and as she appeared to be oppressed by her clothes, he ripped them open with his poniard, and in so doing laid bare her shoulder. D’Artagnan,” said Athos, with a maniacal burst of laughter, “guess what she had on her shoulder.”
“How can I tell?” said D’Artagnan.
“A fleur-de-lis,” said Athos. “She was branded.”
Athos emptied at a single draught the glass he held in his hand.
“Horror!” cried D’Artagnan. “What do you tell me?”
“Truth, my friend. The angel was a demon; the poor young girl had stolen the sacred vessels from a church.”
“And what did the count do?”
“The count was of the highest nobility. He had on his estates the rights of high and low tribunals. He tore the dress of the countess to pieces; he tied her hands behind her, and hanged her on a tree.”
“Heavens, Athos, a murder?” cried D’Artagnan.
“No less,” said Athos, as pale as a corpse. “But methinks I need wine!” and he seized by the neck the last bottle that was left, put it to his mouth, and emptied it at a single draught, as he would have emptied an ordinary glass.
Then he let his head sink upon his two hands, while D’Artagnan stood before him, stupefied.
“That has cured me of beautiful, poetical, and loving women,” said Athos, after a considerable pause, raising his head, and forgetting to continue the fiction of the count. “God grant you as much! Let us drink.”
“Then she is dead?” stammered D’Artagnan.
“Parbleu!” said Athos. “But hold out your glass. Some ham, my boy, or we can’t drink.”
“And her brother?” added D’Artagnan, timidly.
“Her brother?” replied Athos.
“Yes, the priest.”
“Oh, I inquired after him for the purpose of hanging him likewise; but he was beforehand with me, he had quit the curacy the night before.”
“Was it ever known who this miserable fellow was?”
“He was doubtless the first lover and accomplice of the fair lady. A worthy man, who had pretended to be a curate for the purpose of getting his mistress married, and securing her a position. He has been hanged and quartered, I hope.”
“My God, my God!” cried D’Artagnan, quite stunned by the relation of this horrible adventure.
“Taste some of this ham, D’Artagnan; it is exquisite,” said Athos, cutting a slice, which he placed on the young man’s plate.
“What a pity it is there were only four like this in the cellar. I could have drunk fifty bottles more.”
D’Artagnan could no longer endure this conversation, which had made him bewildered. Allowing his head to sink upon his two hands, he pretended to sleep.
“These young fellows can none of them drink,” said Athos, looking at him with pity, “and yet this is one of the best!”