Chương LIII. BỊ GIAM CẦM: NGÀY THỨ HAI

Milady mơ thấy cuối cùng ả cũng tóm được D’Artagnan, mơ thấy chính mình đang đứng xem buổi hành hình gã. Hình ảnh dòng máu đáng ghét của kẻ thù tuôn trào dưới lưỡi rìu đao phủ đã vẽ nên một nụ cười đầy mị lực trên môi ả.

Ả say giấc nồng như bao kẻ tù tội khác, được vỗ về bởi niềm hy vọng đầu tiên vừa chớm nở.

Sáng hôm sau, khi có người vào phòng, ả vẫn nằm nguyên trên giường. Felton đứng ngoài hành lang. Ngài dẫn theo một người phụ nữ vừa mới đến-chính là người ngài từng nhắc tới tối qua. Chị ta bước vào, tiến lại gần giường Milady và ngỏ ý muốn hầu hạ ả.

Milady vốn mang sẵn một làn da nhợt nhạt, nên sắc diện ấy dễ dàng qua mặt những kẻ mới gặp lần đầu.

"Tôi đang bị sốt," ả rên rỉ; "Đêm dằng dặc vừa qua, tôi chẳng thể chợp mắt lấy một giây. Cả thân thể tôi đau đớn rã rời. Liệu mọi người có thể đối xử nhân đạo với tôi hơn những kẻ hôm qua không? Tất cả những gì tôi cầu xin chỉ là được nằm yên trên chiếc giường này."

"Phu nhân có muốn gọi bác sĩ không?" người phụ nữ hỏi.

Felton im lặng lắng nghe cuộc đối thoại, chẳng buồn chen lấy một lời.

Milady ngầm toan tính: càng đông người vây quanh, ả càng có nhiều con rối để thao túng, và Lord de Winter chắc chắn sẽ còn siết chặt vòng kìm kẹp hơn nữa. Hơn thế, vị bác sĩ kia hoàn toàn có thể vạch trần mưu hèn kế bẩn này; mà Milady, sau khi đã để tuột mất ván cờ đầu tiên, quyết không thể chuốc lấy thất bại ở ván thứ hai.

"Mời bác sĩ ư?" ả nói. "Ích lợi gì cơ chứ? Lũ người tối qua đã tự ý phán quyết rằng cơn bệnh của tôi chỉ là một màn kịch; hôm nay chắc hẳn cũng chẳng khác gì - vì suốt từ tối qua, họ đã thừa thời gian để gọi một vị y sĩ đến rồi."

"Vậy thì," Felton bắt đầu mất kiên nhẫn lên tiếng, "phu nhân hãy tự nói xem, phu nhân muốn được chữa trị theo cách nào."

"Ôi, làm sao tôi biết được? Lạy Chúa! Tôi chỉ biết mình đang bị những cơn đau hành hạ, thế thôi. Cứ cho tôi bất cứ thứ thuốc gì ngài muốn, điều đó cũng chẳng mảy may quan trọng nữa."

"Đi mời Lord de Winter đến đây," Felton nói, đã chán ngấy những lời oán thán dông dài.

"Ôi, không, không!" Milady hoảng hốt thốt lên; "Không, thưa ngài, tôi van ngài, xin đừng gọi ông ta. Tôi khỏe rồi, tôi chẳng cần gì cả; xin đừng gọi ông ta đến."

Ả đã trút biết bao mãnh liệt, biết bao sức lôi cuốn mị hoặc vào tiếng kêu gào ấy, đến độ Felton bất giác tiến vài bước vào trong phòng.

"Cá đã cắn câu!" Milady thầm đắc ý.

"Ngay lúc này, phu nhân, nếu phu nhân thực sự đau ốm," Felton lên tiếng, "tôi sẽ cho mời một bác sĩ; còn nếu phu nhân định lừa gạt chúng tôi - chà, mọi chuyện sẽ tồi tệ hơn cho phu nhân đấy. Nhưng ít nhất, chúng tôi sẽ chẳng phải cắn rứt lương tâm về bất cứ điều gì."

Milady không đáp lại. Ả quay khuôn mặt diễm lệ vùi xuống gối, rồi bật khóc nức nở, buông những tiếng nấc xé lòng.

Felton quan sát ả trong chốc lát với vẻ mặt lạnh tanh thường lệ; rồi, thấy cơn kích động này có chiều hướng kéo dài, ngài liền bước thẳng ra ngoài. Người phụ nữ bước theo ngài, còn Lord de Winter thì không hề xuất hiện.

"Mình bắt đầu thấy tia sáng của con đường rồi đây," Milady lẩm bẩm trong một niềm hân hoan hoang dại, vùi sâu mình dưới lớp chăn mỏng để giấu đi niềm vui sướng đang trào dâng khỏi những ánh mắt có thể đang theo dõi.

Hai giờ chậm chạp trôi qua.

"Bây giờ là lúc cơn bạo bệnh này nên chấm dứt," ả tự nhủ; "hãy để tôi ngồi dậy, và vớt vát chút đỉnh thành công ngay trong hôm nay. Mình chỉ có mười ngày, và đến tối nay thì đã hai ngày vội vã qua đi."

Buổi sáng, khi lính gác bước vào phòng Milady, họ đã mang theo bữa điểm tâm. Ả nhẩm tính, giờ đây họ không thể dùng dằng thêm việc dọn bàn nữa, và kiểu gì Felton cũng sẽ xuất hiện.

Dự đoán của Milady chẳng hề sai. Felton đã quay lại. Chẳng màng bận tâm xem nữ tù nhân đã chạm môi vào thức ăn hay chưa, ngài hất đầu ra hiệu cho thuộc hạ khiêng chiếc bàn, vốn đã được bày biện sẵn từ lúc mang vào, ra khỏi phòng.

Felton nán lại; trên tay ngài là một cuốn sách.

Lúc này, Milady đang tựa mình vào chiếc ghế bành cạnh lò sưởi. Vẻ đẹp mong manh, nhợt nhạt và dáng điệu buông xuôi khiến ả trông tựa như một thánh nữ thuần khiết đang lặng lẽ đợi chờ ngày tử đạo.

Felton tiến lại gần, cất lời: “Lord de Winter, một tín đồ Công giáo giống như phu nhân, cho rằng việc thiếu vắng các nghi thức và buổi lễ của nhà thờ hẳn sẽ khiến phu nhân khổ tâm. Do đó, ngài ấy đã chấp thuận để phu nhân đọc kinh Misa1 mỗi ngày; và đây là cuốn sách chứa những nghi lễ ấy.”

Trước cái cách Felton ném cuốn sách xuống chiếc bàn nhỏ cạnh ả, trước cái giọng điệu đay nghiến khi ngài nhấn mạnh bốn chữ, kinh Misa của phu nhân, và trước nụ cười nửa miệng đầy khinh bỉ kia, Milady khẽ ngẩng đầu. Ả bắt đầu nhìn viên sĩ quan chăm chú hơn.

Nhờ mái tóc được chải chuốt giản dị, bộ trang phục tuềnh toàng, cùng vầng trán nhẵn thín, cứng cỏi và khó dò như tạc từ cẩm thạch, ả nhận ra ngay đây là một trong những tín đồ Thanh giáo2 u ám mà ả từng chạm trán nhan nhản, không chỉ ở triều đình Vua James3, mà ngay cả ở cung điện nước Pháp - nơi mà dẫu ký ức đẫm máu về đêm thánh Bartholomew4 vẫn còn đó, họ đôi khi vẫn mò đến để tìm chốn nương thân.

Và rồi, tựa như một tia chớp, ả nảy ra một ý tưởng xảo quyệt. Đó là thứ trực giác thiên tài thường chỉ bùng lên ở những kẻ có biệt tài xoay chuyển càn khôn trong những cơn khủng hoảng, vào ngay cái khoảnh khắc tột cùng định đoạt cả vận mệnh lẫn mạng sống của họ.

Chỉ bốn chữ kinh Misa của phu nhân cùng một cái liếc mắt lướt qua Felton đã đủ để ả đo lường trọn vẹn sức nặng của câu trả lời sắp sửa buông ra. Với trí tuệ sắc sảo bẩm sinh, lời đáp đã được ả dọn sẵn và chực chờ bật khỏi bờ môi:

“Tôi sao?” ả vặc lại, bằng một giọng điệu khinh khỉnh chẳng kém gì thái độ ả vừa soi thấy ở viên sĩ quan trẻ. “Tôi ư, thưa ngài? Kinh Misa của tôi ư? Lord de Winter, cái gã Công giáo mục nát đó, thừa biết tôi chẳng hề chung tín ngưỡng với hắn. Đây chẳng qua là một cái bẫy mà hắn rắp tâm giăng ra để hại tôi!”

“Vậy thì phu nhân theo tôn giáo nào?” Felton buột miệng. Bất chấp khả năng kiềm chế bản thân, ngài vẫn không giấu nổi sự kinh ngạc tột độ.

“Tôi sẽ chỉ nói ra,” Milady thốt lên, diễn trọn vẻ hân hoan rực rỡ của một kẻ tuẫn đạo, “vào cái ngày mà tôi đã nếm đủ mọi đọa đày vì đức tin của chính mình!”

Chỉ qua ánh mắt của Felton, Milady biết chắc mình vừa mở toang một khoảng trống cơ hội thênh thang chỉ bằng vỏn vẹn một câu nói.

Dẫu vậy, viên sĩ quan trẻ vẫn đứng trơ ra đó, câm lặng và bất động. Phút chốc, chỉ có đôi mắt của ngài là đang thay lời muốn nói.

“Tôi đang sa vào tay kẻ thù,” ả dấn tới, buông những lời chất chứa nhiệt thành hệt như giọng điệu quen thuộc của đám tín đồ Thanh giáo. “Thôi được, hãy để Đức Chúa cứu rỗi tôi, bằng không, hãy để tôi được bỏ mạng vì Người! Đó là câu trả lời mà tôi mong ngài sẽ mang về bẩm báo với Lord de Winter. Còn về cuốn sách này,” ả nói thêm, chỉ tay vào cuốn cẩm nang nhưng tịnh không thèm chạm vào, cứ như thể chỉ quẹt trúng thôi ả cũng sẽ bị vấy bẩn, “ngài có thể cầm về mà tự dùng. Bởi lẽ, chắc mẩm ngài cũng chính là tòng phạm của Lord de Winter - kẻ a dua theo những cuộc đàn áp tàn bạo và những tư tưởng dị giáo của hắn ta.”

Felton không buồn đáp trả. Ngài vớ lấy cuốn sách với cùng một vẻ gớm ghiếc như ả vừa thể hiện, rồi lẳng lặng rút lui, chìm sâu vào những suy tưởng miên man.

Lord de Winter đến vào khoảng năm giờ chiều. Suốt cả ngày dài, Milady đã có dư dả thời gian để vạch sẵn kế hoạch hành động. Ả đón tiếp ông ta với phong thái điềm nhiên của một người phụ nữ đã nắm chắc toàn bộ lợi thế trong tay.

"Có vẻ như," vị nam tước cất lời, thả mình xuống chiếc ghế bành đối diện Milady rồi hờ hững duỗi chân về phía lò sưởi, "chúng ta vừa thực hiện một cuộc bỏ đạo nho nhỏ thì phải!"

"Ngài có ý gì, thưa ngài!"

"Ý ta là kể từ lần cuối giáp mặt, cô đã thay đổi đức tin của mình. Chắc không phải do tình cờ mà cô lại chọn kết hôn với một người theo đạo Tin Lành để làm người chồng thứ ba đấy chứ?"

"Xin hãy giải thích rõ ràng hơn, thưa bá tước," người nữ tù nhân đáp lại bằng vẻ uy nghi; "bởi vì dù từng lời ngài nói tôi đều nghe rõ mồn một, nhưng tôi xin khẳng định rằng mình chẳng hiểu gì cả."

"Vậy thì hóa ra cô chẳng theo tôn giáo nào hết; ta lại thích điều đó nhất đấy," Lord de Winter bật cười đáp.

"Chắc chắn điều đó hoàn toàn ăn khớp với nguyên tắc của chính ngài rồi," Milady lạnh lùng vặc lại.

"Ồ, ta thú nhận rằng đối với ta, mọi tôn giáo đều như nhau cả thôi."

"Ngài chẳng cần phải thú nhận sự vô thần của mình đâu, thưa bá tước; chính thói trăng hoa và những tội ác của ngài đã quá đủ để minh chứng cho điều đó rồi."

"Cái gì, cô lại dám mở miệng nói về thói trăng hoa sao, hỡi phu nhân Messalina5, phu nhân Macbeth6! Hoặc là ta nghe nhầm, hoặc là cô đã quá đỗi trơ trẽn rồi đấy!"

"Ngài cố tình buông những lời đó chỉ vì biết có người đang nghe lén," Milady điềm tĩnh đáp trả; "và ngài muốn xúi giục bọn cai ngục cùng đám đao phủ của ngài chống lại tôi."

"Cai ngục và đao phủ của ta sao! Chà chà, phu nhân! Cô đang dùng giọng điệu sặc mùi thi ca đấy, và vở hài kịch của ngày hôm qua nay đã hóa thành tấn bi kịch rồi. Dù sao thì, tám ngày nữa cô sẽ yên vị ở đúng nơi cô phải ở, và nhiệm vụ của ta cũng sẽ cáo chung."

"Một nhiệm vụ bỉ ổi! Một nhiệm vụ vô đạo!" Milady hét lên, mang dáng vẻ đắc thắng của một nạn nhân đang khiêu khích kẻ phán xử mình.

"Chúa ơi," de Winter đứng dậy, "ta nghĩ con ả này phát điên thật rồi! Nào, nào, hãy bình tĩnh lại đi, quý bà Thanh giáo, nếu không ta sẽ tống cô xuống tận ngục tối đấy. Rượu vang Tây Ban Nha của ta đã làm cô say rồi phải không? Nhưng đừng bận tâm; thứ rượu đó chẳng nguy hiểm đâu, và cũng sẽ không để lại hậu quả gì tồi tệ cả."

Nói đoạn, Lord de Winter rút lui kèm theo vài tiếng chửi thề, một thói quen vốn dĩ rất phổ biến của giới hiệp sĩ thời bấy giờ.

Quả thực Felton đang đứng ngay sau cánh cửa, không bỏ sót mảy may một lời nào của cuộc châm chọc này. Milady đã đoán không sai.

"Phải, đi đi, đi đi!" ả lẩm bẩm nhìn theo bóng lưng người em rể của mình; "rồi ngài sẽ thấy, những hậu quả đang kéo đến đây; nhưng ông, tên ngốc yếu đuối kia, sẽ chẳng thể nào nhìn ra chúng cho đến khi quá muộn để tháo chạy."

Bầu không gian lại chìm vào tĩnh lặng. Hai giờ đồng hồ chậm chạp trôi qua. Khi lính canh mang bữa tối vào phòng, Milady đang đắm mình trong những lời kinh cầu nguyện đọc vang-những câu kinh ả từng học lỏm từ một lão gia nhân của người chồng thứ hai, vốn là một tín đồ Thanh giáo vô cùng sùng đạo. Ả nhập vai xuất thần đến độ dường như chẳng màng đến vạn vật xung quanh. Thấy vậy, Felton khẽ ra hiệu để không ai quấy rầy ả; và ngay khi thức ăn được bày biện xong, ngài lặng lẽ dẫn đám lính gác rút lui.

Biết rõ nhất cử nhất động của mình đều có thể lọt vào tầm ngắm, Milady vẫn kiên nhẫn đọc cho trọn vẹn bài kinh. Qua tiếng bước chân không còn đều đặn như trước, ả đoán chắc tên lính gác ngoài cửa đang dỏng tai lắng nghe. Quả là một cơ hội vàng không thể tuyệt vời hơn! Ả thong thả đứng dậy, bước đến bên bàn, chỉ dùng qua loa vài miếng và nhấp chút nước lọc.

Một giờ sau, mâm thức ăn được dọn đi. Lần này, Milady tinh ý nhận ra Felton đã vắng bóng giữa đám lính canh. Rõ ràng, viên trung úy trẻ đang lo sợ việc giáp mặt ả quá nhiều.

Ả lặng lẽ quay mặt vào tường, khẽ nhếch môi cười-một nụ cười ngạo nghễ, đắc thắng đến mức nếu ai đó vô tình bắt gặp, mọi lớp vỏ bọc hoàn hảo của ả sẽ vỡ lở.

Ả kiên nhẫn đợi thêm nửa giờ nữa. Khi vạn vật trong tòa lâu đài cổ kính đã chìm nghỉm vào màn đêm tĩnh mịch, khi không gian chỉ còn lại tiếng rì rào miên man của những con sóng xô bờ-bản hòa ca vô tận của đại dương-ả mới cất giọng. Bằng một chất giọng trong vắt, êm ái nhưng ẩn chứa thứ nội lực xuyên thấu, ả ngân nga những câu hát đầu tiên của một bản thánh ca mà giới Thanh giáo hằng tôn sùng:

"Chúa buông tay những kẻ bề tôi,
    Để xem lòng họ kiên trung thế nào;
Nhưng rồi Người sẽ sớm dang tay,
    Đưa đường dẫn lối vượt ngàn gian lao."

Những vần thơ này chẳng lấy gì làm xuất chúng-nếu không muốn nói là còn thua xa mức đó; nhưng như ai nấy đều rõ, các tín đồ Thanh giáo xưa nay vốn chẳng chuộng thói trau chuốt thi ca.

Miệng vẫn ngân nga, nhưng đôi tai Milady lại đang căng ra nghe ngóng. Tiếng bước chân ngoài cửa chợt ngừng bặt, gã lính gác đứng sững lại như bị hóa đá. Milady thầm đắc ý trước hiệu ứng hoàn hảo mà mình vừa tạo ra.

Rồi ả trút bầu tâm sự vào lời ca bằng một niềm đam mê cháy bỏng cùng muôn vàn cảm xúc không thể diễn tả thành lời. Ả cảm nhận rõ từng âm thanh đang ngân vang, len lỏi dưới những mái vòm sừng sững, mang theo thứ bùa mê kỳ diệu đủ sức làm mềm lòng bất kỳ gã cai ngục sắt đá nào. Tuy nhiên, gã lính gác-hẳn là một tín đồ Công giáo ngoan đạo-dường như đã rũ bỏ được sức quyến rũ ấy. Xuyên qua cánh cửa đóng kín, anh ta gắt gỏng gọi vọng vào: "Xin hãy im lặng đi, phu nhân! Bài hát của phu nhân nghe thê lương chẳng khác nào khúc cầu hồn 'De profundis'7 vậy; và nếu ngoài niềm vui được đóng quân ở đây, chúng tôi còn phải nghe thêm những thứ u ám thế này, thì sức người trần mắt thịt nào chịu cho thấu!"

"Im ngay!" một giọng nói lạnh lùng, nghiêm khắc chợt cất lên, mà Milady lập tức nhận ra đó chính là Felton. "Ngươi đang xía mũi vào chuyện gì vậy, tên ngốc? Có ai ra lệnh cho ngươi cấm nữ tù nhân này hát không? Không. Nhiệm vụ của ngươi là canh gác cô ta-phải nổ súng nếu cô ta giở trò tẩu thoát. Hãy làm đúng phận sự của mình! Nếu cô ta bỏ trốn, hãy tiêu diệt; nhưng tuyệt đối không được tự ý vượt quá quyền hạn!"

Một nét hân hoan tột độ bừng sáng trên gương mặt Milady, nhưng nó vụt qua nhanh tựa ánh chớp. Vẫn vờ như chẳng màng đến cuộc cãi vã vừa diễn ra-dù thực chất ả không bỏ sót bất kỳ một từ nào-Milady lại cất tiếng hát. Lần này, ả dồn hết thảy sự quyến rũ mê hoặc, tất cả nội lực sâu thẳm, và trọn vẹn thứ ma lực cám dỗ mà ác quỷ đã ưu ái ban tặng cho chất giọng của ả:

"Mặc nước mắt tuôn rơi, mặc muộn phiền giăng lối,
    Mặc cảnh đày đọa, hay gông cùm trói buộc,
Tôi vẫn còn thanh xuân, còn những lời nguyện ước,
    Và một đấng thiêng liêng hằng thấu tỏ nỗi đau."

Sức mạnh dâng trào và lối luyến láy tuyệt mỹ từ giọng hát ấy đã thổi vào những vần thơ thô mộc, vụng về kia một phép màu nhiệm. Nó tạo ra hiệu ứng rung động tâm can mà ngay cả những tín đồ Thanh giáo sùng đạo bậc nhất cũng hiếm khi cảm nhận được qua lời ca tiếng hát của các huynh đệ, dẫu họ có gắng sức điểm tô bằng trí tưởng tượng phong phú đến đâu. Đứng ngoài cửa, Felton thẫn thờ ngỡ như ngài đang được lắng nghe tiếng hát của vị thiên thần từng hiện ra xoa dịu nỗi đau cho ba người Do Thái giữa lò lửa rực hồng8.

Milady vẫn mê mải hát:

"Rồi một ngày cánh cửa kia sẽ hé mở,
    Mang theo ơn Chúa và những ước nguyện thành hình;
Còn nếu như niềm hy vọng ấy dở dang,
    Thì dẫu là cõi chết, ta cũng cam lòng đón nhận."

Đoạn kinh cầu được nữ phù thủy đáng sợ trút cạn tâm can để thể hiện, đã đánh gục chút lý trí cuối cùng đang vẫy vùng nơi lồng ngực viên sĩ quan trẻ. Ngài cuống cuồng đẩy tung cửa bước vào. Trước mắt Milady, Felton hiện ra với gương mặt tái nhợt thường nhật, nhưng đôi mắt ngài lại vằn lên những tia đỏ ngầu, hoang dại đến cực độ.

"Tại sao phu nhân lại hát như vậy, và cất lên chất giọng như thế?" ngài lắp bắp.

"Cúi xin ngài lượng thứ," Milady khẽ khàng đáp bằng một vẻ hiền dịu đến nao lòng. "Tôi thật hồ đồ khi quên mất rằng những bài ca của mình vốn dĩ chẳng mảy may phù hợp với tòa lâu đài u ám này. Biết đâu chừng, tín ngưỡng của tôi đã mạo phạm đến ngài; nhưng có Chúa chứng giám, tôi không hề rắp tâm làm vậy. Vì thế, mong ngài mở lòng bao dung tha thứ cho một lỗi lầm tuy lớn lao, nhưng tuyệt nhiên vô tình này."

Khoảnh khắc ấy, trông Milady kiều diễm đến lạ kỳ. Thứ cảm xúc đắm chìm trong tôn giáo mà ả khéo léo khoác lên mình đã tỏa ra một vầng hào quang rực rỡ, khiến ánh mắt Felton hoàn toàn chói lóa. Trong cơn mơ hồ, ngài đinh ninh kẻ trước mặt chính là vị thiên thần ngài vừa may mắn được thưởng thức giọng ca.

"Đúng... đúng rồi," ngài ấp úng, "phu nhân đã làm phiền, đã gây kích động đến những người trong lâu đài này."

Chàng thanh niên đáng thương, vì đã đánh mất đi sự tỉnh táo, nên tuyệt nhiên không nhận ra sự chắp vá, rời rạc trong từng câu chữ của mình. Trong khi đó, bằng ánh nhìn sắc lạnh tựa linh miêu, Milady đang hả hê đọc thấu vạn vật ẩn giấu dưới tận đáy tâm hồn ngài.

"Vậy thì tôi xin phép được im lặng," Milady rũ mi mắt, hạ giọng nỉ non bằng tất cả sự ngọt ngào ả có thể vay mượn, cùng một thái độ cam chịu đến đáng thương mà ả cố công tô vẽ lên dáng vẻ của mình.

"Không... không cần thiết phải vậy thưa phu nhân," Felton bối rối, "chỉ là... xin người đừng cất giọng quá lớn, đặc biệt là vào lúc đêm hôm khuya khoắt."

Dứt lời, dường như nhận ra bản thân chẳng thể gồng gánh thêm sự uy nghiêm sắt đá trước mặt nữ tù nhân, Felton vội vã tháo thân, lao nhanh ra khỏi phòng.

"Thưa trung úy, ngài xử trí đúng lắm!" gã lính gác lên tiếng đồng tình. "Những khúc hát như vậy thật khiến tâm can người ta xáo trộn; nhưng ngẫm lại rồi cũng sẽ quen, âu cũng bởi chất giọng của phu nhân đây quá đỗi tuyệt vời."



  1. Thánh lễ Misa (Mass) là một nghi thức tế lễ trọng đại của Giáo hội Công giáo, nơi giáo dân tụ họp để cử hành bí tích Thánh Thể. 

  2. Thanh giáo (Puritanism) là một phong trào cải cách tôn giáo trong đạo Tin Lành xuất hiện vào thế kỷ 16-17 tại Anh. Họ chủ trương một lối sống kỷ luật, nghiêm ngặt, từ chối các nghi lễ phô trương và sự xa hoa của Giáo hội Công giáo. 

  3. Đề cập đến Vua James I của Anh (trị vì 1603-1625), triều đại của ông nổi bật với những căng thẳng tôn giáo giữa Giáo hội Anh, người Công giáo và tín đồ Thanh giáo. 

  4. Thảm sát Ngày thánh Bartholomew (24/8/1572) là một sự kiện lịch sử đẫm máu tại Pháp, khi hàng chục ngàn người Huguenot (tín đồ Tin Lành Pháp) bị sát hại bởi những kẻ cực đoan theo Công giáo. 

  5. Valeria Messalina là người vợ thứ ba của Hoàng đế La Mã Claudius, khét tiếng trong lịch sử với lối sống trụy lạc và những âm mưu thâm độc. 

  6. Lady Macbeth là một nhân vật nổi tiếng trong vở bi kịch 'Macbeth' của đại văn hào William Shakespeare. Bà là biểu tượng của sự tham vọng tàn nhẫn, người đã xúi giục chồng mình ám sát nhà vua để cướp ngôi. 

  7. 'De profundis' (Từ vực thẳm) là bài thánh vịnh số 130 trong Kinh Thánh, thường được dùng như một lời kinh cầu nguyện cho những linh hồn nơi luyện ngục trong các tang lễ của Công giáo. 

  8. Điển tích trong Kinh Thánh Cựu Ước (Sách Đa-ni-ên), kể về ba thanh niên Do Thái (Shadrach, Meshach và Abednego) bị ném vào lò lửa rực cháy vì từ chối thờ lạy tượng vàng của vua Babylon, nhưng họ được một thiên thần bảo vệ và sống sót một cách kỳ diệu.