Chương XLI. CUỘC BAO VÂY LA ROCHELLE
Cuộc chiến bao vây La Rochelle là một trong những sự kiện chính trị vĩ đại nhất triều đại Louis XIII, đồng thời cũng là một chiến dịch quân sự lẫy lừng của Hồng y. Do vậy, một vài dòng phác họa về cuộc chiến này là điều không chỉ thú vị mà còn hết sức cần thiết. Hơn thế nữa, rất nhiều chi tiết của cuộc vây hãm mang mối liên hệ quá đỗi mật thiết với câu chuyện mà chúng ta đang kể, đến mức không thể lặng lẽ lướt qua.
Khi tiến hành cuộc vây hãm này, những toan tính chính trị của Hồng y vô cùng sâu rộng. Hãy để chúng tôi hé mở điều đó trước, rồi mới mạn đàm đến những mưu đồ cá nhân của vị giáo chủ, vốn dĩ cũng chi phối ông mạnh mẽ chẳng kém gì những mưu đồ chính trị kia.
Trong số những thành trì kiên cố mà tiên đế Henry IV từng nhượng lại cho phe Huguenot làm chốn nương thân, giờ đây chỉ còn trơ trọi mỗi La Rochelle. Bởi vậy, phải tận diệt bằng được thành lũy cuối cùng này của phái Calvin1-một ung nhọt nguy hiểm, nơi mầm mống nội chiến và ngoại xâm không ngừng giao kết và sinh sôi.
Ngay từ tiếng gọi đầu tiên dưới ngọn cờ Tin lành, người Tây Ban Nha, người Anh, những kẻ bất mãn gốc Ý, những tay phiêu lưu từ mọi quốc gia, và đám lính đánh thuê của đủ mọi giáo phái, đã ùn ùn kéo đến. Chúng tập hợp lại thành một liên minh rộng lớn, vươn rễ bám sâu tự do khắp mọi ngóc ngách châu Âu.
Vì lẽ đó, La Rochelle, vốn đã vươn lên tầm quan trọng tột bậc nhờ sự sụp đổ của các thành trì Calvin khác, nay trở thành tâm điểm của mọi mầm mống bất đồng và tham vọng. Hơn nữa, đây cũng là bến cảng cuối cùng trên đất Pháp còn mở cửa đón người Anh. Bằng cách đóng sập cánh cửa này trước mũi kẻ thù muôn thuở, ngài Hồng y đã hoàn tất công cuộc dở dang của nữ tướng Joan of Arc2 và Công tước de Guise3.
Thế nên, Bassompierre, một con người mang trong mình cả dòng máu Tin lành lẫn Công giáo-Tin lành bởi đức tin và Công giáo bởi chức danh chỉ huy dòng tu Chúa Thánh Thần4; Bassompierre, mang thân phận người Đức nhưng lại sở hữu trái tim Pháp-nói tóm lại, con người sở hữu uy quyền chỉ huy kiệt xuất tại cuộc vây hãm La Rochelle ấy, khi dẫn đầu đám quý tộc Tin lành xông pha trận mạc, đã từng thốt lên: "Các ngài sẽ thấy, thưa các ngài, rằng chúng ta sẽ đủ ngốc nghếch để đánh chiếm La Rochelle."
Và Bassompierre đã đúng. Loạt đại bác nã gầm trời ở Đảo Ré5 chính là điềm báo cho cuộc đàn áp khốc liệt ở Cévennes6; và sự thất thủ của La Rochelle chẳng qua chỉ là khúc dạo đầu cho việc bãi bỏ Sắc lệnh Nantes7 sau này.
Chúng tôi đã từng bóng gió rằng, bên cạnh nhãn quan mang đậm tính lịch sử của vị Tể tướng vốn luôn chuộng tư duy cào bằng và đơn giản hóa, những người ghi chép sử biên niên cũng buộc phải thừa nhận những động cơ nhỏ nhen hơn của một kẻ đang si tình và một đối thủ đang ghen tuông.
Richelieu, như ai nấy đều tường tận, đã đem lòng yêu hoàng hậu. Tình cảm này đơn thuần chỉ là một nước cờ chính trị, hay là một niềm đam mê sâu thẳm mà nhan sắc kiều diễm của Anne nước Áo đã gieo rắc vào lòng những kẻ cận kề bà? Điều đó, chúng tôi không dám lạm bàn; nhưng dù sao chăng nữa, qua những diễn biến đã qua của câu chuyện, ta đều thấy rõ Buckingham luôn nắm phần hơn. Trong đôi ba bận chạm trán, đặc biệt là vụ những chiếc đinh ghim kim cương, vị Công tước nước Anh, nhờ sự tận tụy của ba chàng Ngự lâm quân cùng lòng quả cảm bạt mạng của D'Artagnan, đã giáng cho Hồng y một vố đau điếng.
Vì vậy, mục tiêu của Richelieu không chỉ dừng lại ở việc triệt hạ một kẻ thù của nước Pháp, mà còn là để rửa hận một tình địch. Nhưng sự trả thù ấy phải thật huy hoàng, vang dội và xứng tầm với vị thế của một con người đang nắm trọn binh quyền của cả một vương quốc trong tay.
Richelieu hiểu rõ: giao chiến với nước Anh chính là giao chiến với Buckingham; quật ngã nước Anh chính là quật ngã Buckingham. Nói tóm lại, bôi tro trát trấu vào mặt nước Anh trước toàn châu Âu, chính là sỉ nhục Buckingham trước mặt hoàng hậu.
Về phần mình, Buckingham, dẫu bề ngoài luôn mượn cớ bảo vệ danh dự nước Anh, thực chất cũng bị sai khiến bởi những động cơ hệt như vị Hồng y. Cả hai cùng theo đuổi một mối tư thù cá nhân. Khi không thể bước vào đất Pháp với tư cách của một đại sứ dưới bất kỳ lý do nào, Buckingham quyết tâm đặt chân đến đó với tư thế của một kẻ chinh phục.
Trớ trêu thay, phần thưởng thực sự trong ván bài đẫm máu mà hai vương quốc hùng mạnh nhất đang bị cuốn vào chỉ để thỏa mãn khao khát của hai kẻ si tình, lại giản đơn chỉ là một ánh nhìn đầy ân sủng từ Anne nước Áo.
Lợi thế ban đầu đã nghiêng về phía Buckingham. Bất thần xuất hiện ngoài khơi Đảo Ré với hạm đội chín mươi chiến thuyền cùng gần hai vạn quân binh, ông đã đánh úp Bá tước de Toiras, người đại diện nhà vua trấn thủ hòn đảo, và sau một trận huyết chiến kinh hoàng, ông đã đổ bộ thành công.
Hãy thứ lỗi cho chúng tôi khi tản mạn đôi chút rằng, trong trận chiến khốc liệt ấy, Nam tước de Chantal đã bỏ mạng sa trường. Cái chết của ông để lại một bé gái mồ côi mới mười tám tháng tuổi, và bé gái ấy sau này chính là phu nhân de Sévigné nức tiếng.
Bá tước de Toiras đành lui quân về cố thủ tại thành lũy St. Martin cùng đội quân đồn trú, đồng thời cắt cử một trăm binh sĩ đóng tại một pháo đài nhỏ mang tên pháo đài La Prée.
Diễn biến này đã thổi bùng quyết tâm của Hồng y. Trong thời gian chờ nhà vua và đích thân ông đến chỉ huy cuộc vây hãm La Rochelle như đã định, Hồng y đã cử Điện hạ (Monsieur) đứng ra điều hành các chiến dịch sơ khởi, đồng thời hạ lệnh cho tất cả các đội quân hiện có cấp tốc hành quân ra tiền tuyến. Chính trong cánh quân tiên phong này, có mặt người bạn D'Artagnan của chúng ta.
Nhà vua, như chúng tôi đã đề cập, định sẽ ngự giá thân chinh ngay sau khi lễ Giường Công lý8 kết thúc. Thế nhưng, vừa dời gót khỏi buổi lễ vào ngày hai mươi tám tháng Sáu, nhà vua bỗng ngã bệnh. Dẫu đang hừng hực khí thế muốn lên đường, cơn sốt ngày một trầm trọng đã buộc ngài phải đóng trại lại tại Villeroy.
Lẽ dĩ nhiên, hễ nhà vua dừng bước, đội Ngự lâm quân cũng phải dừng theo. Chuyện này vô tình khiến D'Artagnan, người lúc bấy giờ mới chỉ là lính Vệ quân, đành phải tạm thời chia tay ba người bằng hữu chí cốt là Athos, Porthos và Aramis. Sự xa cách ấy ban đầu chỉ gieo rắc một nỗi muộn phiền thoáng qua, nhưng chắc chắn sẽ hóa thành nỗi bất an tột độ, nếu chàng mường tượng ra những hiểm nguy vô hình đang bủa vây chờ chực mình.
Dẫu sao, chàng cũng đã đặt chân an toàn đến khu doanh trại được dựng lên trước La Rochelle vào ngày mười tháng Chín năm 1627.
Mọi thứ vẫn dậm chân tại chỗ. Công tước Buckingham cùng quân Anh, những kẻ đang làm chủ Đảo Ré, vẫn ngoan cố nhưng bất thành trong việc vây hãm thành lũy St. Martin và pháo đài La Prée. Trong khi đó, vài ba ngày trước, những cuộc giao tranh thù địch với La Rochelle cũng đã bắt đầu nổ ra quanh một pháo đài mà Công tước d'Angoulême hạ lệnh xây cất gần thành phố.
Đội Vệ quân, dưới trướng của Ông Dessessart, đã đến đóng quân tại Minimes. Song, như chúng ta đã biết, bởi luôn nung nấu tham vọng khoác lên mình chiếc áo choàng Ngự lâm, D'Artagnan kết giao rất ít bạn bè trong đám đồng đội, để rồi giờ đây, chàng thấy mình hoàn toàn bị cô lập và mặc sức buông lơi trong những dòng suy tưởng miên man.
Những dòng suy tưởng ấy chẳng lấy gì làm vui vẻ. Kể từ lúc đặt chân đến Paris, chàng đã bị cuốn phăng vào những mưu đồ quốc gia đại sự; nhưng những chuyện riêng tư thì lại giậm chân tại chỗ, dở dang cả đường tình duyên lẫn công danh. Về tình yêu, hình bóng duy nhất ngự trị trong trái tim chàng là phu nhân Bonacieux; vậy mà nàng đã bặt vô âm tín, còn chàng thì bất lực chẳng thể dò la được tông tích. Về phần công danh, chàng lại tự chuốc lấy-dù phận bọt bèo-một kẻ thù đáng gờm là ngài Hồng y; kẻ mà chỉ cần nghe danh, những bậc quyền uy nhất vương quốc, kể cả nhà vua, cũng phải run lên bần bật.
Người đàn ông ấy dư sức nghiền nát chàng như một con kiến, vậy mà ông ta vẫn nhắm mắt làm ngơ. Với một trí tuệ tinh anh như D'Artagnan, sự nương tay đó giống như một luồng ánh sáng le lói, giúp chàng thấp thoáng thấy được một viễn cảnh xán lạn hơn.
Rồi chàng lại tự rước thêm một kẻ thù khác, kẻ mà chàng đinh ninh là ít đáng sợ hơn; nhưng dẫu sao, linh tính vẫn mách bảo chàng rằng không thể xem thường ả. Kẻ thù đó chính là Milady.
Bù lại cho tất thảy những giông bão ấy, chàng có được sự che chở và ưu ái từ hoàng hậu; thế nhưng, đặc ân của bà lúc này lại chính là mồi lửa thổi bùng thêm những đòn thù khốc liệt, và sự che chở của bà, như ai cũng biết, lại là một tấm khiên vô cùng mỏng manh-như đã từng được chứng minh qua thảm kịch của Chalais và phu nhân Bonacieux.
Thứ duy nhất chàng thực sự nắm trong tay sau ngần ấy sóng gió, là viên kim cương trị giá năm hay sáu ngàn livre lấp lánh trên ngón tay. Song, ngay cả viên kim cương này-giả như D'Artagnan, trong những hoài bão tham vọng của mình, muốn giữ khư khư lấy nó để làm vật bảo chứng cho lòng biết ơn của hoàng hậu về sau-thì lúc này đây, khi chàng chẳng thể rời xa nó nửa bước, nó cũng phỏng có giá trị gì hơn những hòn sỏi lăn lóc dưới gót giày.
Chúng tôi nói là đống sỏi dưới bước chân, vì D'Artagnan mải miết theo đuổi những suy tư ấy trong lúc tản bộ một mình dọc theo con đường mòn tuyệt đẹp nối từ khu trại đến tận ngôi làng Angoutin. Giờ đây, chính những dòng suy nghĩ miên man đã dẫn cậu đi quá xa so với dự tính. Khi ngày đã bắt đầu tàn lụi, nương theo chút ánh sáng le lói cuối cùng của vầng thái dương đang khuất dần, cậu chợt thấy nòng của một khẩu súng hỏa mai lóe sáng từ phía sau bờ rào.
Với đôi mắt tinh anh và trực giác nhạy bén, D'Artagnan lập tức nhận ra khẩu súng hỏa mai ấy chẳng thể tự nhiên mà nằm đó, và kẻ nấp sau bờ rào kia cũng tuyệt nhiên không mang theo chút thiện ý nào. Nhận thức được điều đó, cậu quyết định nhanh chóng chuyển hướng, lùi ra càng xa càng tốt. Thế nhưng, ngay phía bên kia con đường, lấp ló đằng sau một tảng đá, cậu lại tinh mắt phát hiện thêm đầu của một khẩu súng hỏa mai thứ hai.
Rõ ràng, đây là một cái bẫy giăng sẵn.
Chàng thanh niên liếc nhanh về phía khẩu súng đầu tiên, lòng dâng lên nỗi bất an khi thấy nó đang chĩa thẳng về hướng mình. Nhưng ngay khi vừa nhận ra miệng nòng súng đã khóa chặt mục tiêu, cậu lập tức quăng mình nằm rạp xuống mặt đất. Cùng lúc đó, súng nổ vang trời, và cậu nghe rõ tiếng viên đạn rít xé gió sượt qua đỉnh đầu.
Chẳng còn lấy một giây để chần chừ. D'Artagnan dùng sức bật tung người lên không trung bằng một cú nhảy vọt, và cũng ngay khoảnh khắc ấy, viên đạn từ khẩu súng thứ hai găm mạnh xuống mặt đường, xé toạc lớp sỏi đá ngay đúng chỗ cậu vừa nằm úp mặt.
D'Artagnan vốn dĩ không phải là kẻ nông nổi thích đi tìm một cái chết vô nghĩa chỉ để người đời ca tụng rằng mình chẳng bao giờ chùn bước. Hơn nữa, lòng dũng cảm lúc này chẳng phải là chuyện đáng bàn; D'Artagnan đã thực sự rơi vào một ổ phục kích hiểm độc.
"Nếu tiếng súng thứ ba vang lên," cậu tự nhủ lòng, "đời mình coi như tàn."
Nghĩ vậy, cậu liền vắt chân lên cổ mà cắm đầu chạy thục mạng về phía khu trại. Cậu lao đi bằng tốc độ phi thường của những chàng trai quê nhà, vốn xưa nay vẫn nức tiếng về sự lanh lẹ. Nhưng dẫu cậu có chạy nhanh đến đâu, kẻ nổ súng đầu tiên đã kịp có thời gian nạp lại đạn và bóp cò phát thứ hai. Lần này, đường đạn chuẩn xác đến mức găm thẳng vào chiếc mũ của cậu, hất nó bay xa tới cả chục bước chân.
Dù vậy, vì chẳng có lấy chiếc mũ nào khác để thay thế, cậu đành chộp lấy nó trong lúc vẫn đang cắm cổ chạy. Khi về đến khu trại của mình, mặt cậu trắng bệch, thở hồng hộc không ra hơi. Cậu ngồi phịch xuống, chẳng hé răng một lời với ai, rồi bắt đầu chìm vào suy tưởng.
Biến cố vừa rồi có thể bắt nguồn từ ba nguyên do:
Lý do thứ nhất, và cũng hợp lẽ tự nhiên nhất, đây hẳn là một cuộc phục kích của quân La Rochelle. Chắc chắn bọn chúng sẽ chẳng mảy may thương xót khi tiêu diệt được một trong những Vệ quân của Bệ hạ, bởi như thế là bớt đi được một kẻ thù, và biết đâu chừng kẻ thù ấy lại mang một hầu bao rủng rỉnh trong túi.
D'Artagnan cầm chiếc mũ lên, săm soi lỗ thủng do viên đạn để lại rồi khẽ lắc đầu. Đây tuyệt nhiên không phải đạn súng hỏa mai-nó là đạn súng đạc9. Độ chính xác từ đường ngắm ban đầu đã nhen nhóm trong cậu suy đoán rằng bọn chúng đang sử dụng một loại vũ khí đặc chủng. Nếu vậy, đây khó có thể là một cuộc phục kích quân sự thông thường, vì kích cỡ viên đạn này vốn chẳng thông dụng chút nào.
Rất có thể đây là một "món quà lưu niệm" từ ngài Hồng y. Phải chăng đây là sự trùng hợp khi đúng vào khoảnh khắc ánh nắng phản chiếu làm lộ ra nòng súng, cậu lại đang miên man kinh ngạc trước sự khoan dung mà ngài Hồng y dành cho mình.
Nhưng rồi D'Artagnan lại lắc đầu. Đối với những kẻ mà ngài chỉ cần đưa tay ra là có thể tóm gọn, ngài Hồng y hiếm khi phải viện đến những thủ đoạn hạ lưu như thế.
Vậy thì rất có khả năng đó là đòn thù của Milady; điều này xem ra lại có lý hơn cả.
Cậu cố vắt óc hòng nhớ lại chút đường nét khuôn mặt hay trang phục của những kẻ ám sát, nhưng vô ích. Cậu đã chạy trốn quá nhanh, chẳng kịp để tâm ghi nhớ bất cứ điều gì.
"Ôi, những người anh em đáng thương của tôi!" D'Artagnan lẩm bẩm; "các anh đang ở đâu? Sao các anh lại vắng mặt đúng vào lúc này cơ chứ!"
Đêm hôm ấy trôi qua với D'Artagnan thật tồi tệ. Cậu giật mình thon thót tỉnh giấc tới ba, bốn lần, mường tượng ra cảnh một gã đàn ông đang rón rén tiến lại gần giường với ý định đoạt mạng mình. Thế nhưng, bình minh đã rạng mà màn đêm u ám ấy chẳng mang theo tai ương nào.
Dù vậy, linh tính mách bảo D'Artagnan rằng những gì bị trì hoãn hôm nay, chưa hẳn đã được buông tha vào ngày mai.
D'Artagnan giam mình trong khu trại suốt cả ngày hôm đó, tự viện cớ rằng thời tiết quá đỗi tồi tệ.
Chín giờ sáng hôm sau, tiếng trống báo động dồn dập vang lên. Công tước d'Orléans đích thân đi thị sát các trạm gác. Đội vệ binh nhanh chóng tập hợp chỉnh tề, và D'Artagnan cũng đã vào vị trí giữa những người đồng đội.
Điện hạ chậm rãi bước dọc theo hàng quân. Ngay sau đó, tất cả các sĩ quan chỉ huy đều bước tới để bày tỏ lòng tôn kính, trong đó có cả ông Dessessart, viên đội trưởng đội Vệ binh, cùng với những người khác.
Một hai phút trôi qua, D'Artagnan dường như nhận thấy ông Dessessart đang ra hiệu cho mình tiến lại gần. Cậu nán lại chờ một cử chỉ rõ ràng hơn từ vị chỉ huy, e rằng bản thân có thể nhìn nhầm; nhưng khi cái khoát tay ấy lặp lại lần nữa, cậu lập tức rời khỏi hàng ngũ, bước tới để đợi lệnh.
"Điện hạ chuẩn bị cần vài người tình nguyện cho một nhiệm vụ vô cùng hiểm nguy, nhưng cũng là một chiến công mang lại vinh quang chói lọi cho những ai hoàn thành nó; và ta ra hiệu cho cậu để cậu chuẩn bị sẵn sàng tinh thần."
"Cảm ơn ngài, đại úy!" D'Artagnan đáp lời. Lúc này, cậu chẳng màng đến điều gì hơn là một cơ hội để khẳng định bản thân trước đôi mắt tinh tường của ngài trung tướng.
Thực tình mà nói, quân Rochellais đã mở một cuộc đột kích trong đêm tối, chiếm lại bốt pháo đài mà quân đội hoàng gia vừa gian khổ giành được hai ngày trước. Vấn đề cấp bách hiện tại là phải lập tức do thám để nắm rõ xem kẻ thù đang bố trí canh gác pháo đài này nghiêm ngặt đến mức nào.
Chỉ vài phút sau, Điện hạ cất giọng dõng dạc: "Ta cần ba đến bốn người tình nguyện tham gia nhiệm vụ này, và phải được dẫn dắt bởi một người đáng để gửi gắm niềm tin."
"Bẩm Điện hạ, đối với một người đáng tin cậy, tôi có ngay cậu thanh niên này dưới trướng," ông Dessessart nói, tay chỉ về phía D'Artagnan; "còn về phần bốn hay năm tình nguyện viên, Điện hạ chỉ việc truyền lệnh, chắc chắn sẽ không thiếu người gan dạ sẵn sàng xông pha."
"Cần bốn người tình nguyện sẵn sàng liều mạng cùng tôi!" D'Artagnan hô lớn, đồng thời tuốt thanh kiếm bạc vung lên cao.
Ngay lập tức, hai đồng đội của cậu trong đội Vệ binh bước lên phía trước, và kéo theo đó là hai người lính khác cùng nhập bọn; như vậy quân số đã đủ. D'Artagnan từ chối tất cả những người tiến lên sau, bởi lẽ cậu không muốn tước đoạt mất cơ hội của những người đã nhanh chân xông pha từ giây phút đầu.
Không một ai rõ liệu quân Rochellais sau khi tái chiếm pháo đài đã rút đi hay vẫn để lại một đội đồn trú cố thủ trong đó. Do đó, mục tiêu của cả nhóm là phải tiếp cận thật gần tụ điểm này để thu thập thông tin, xác minh lại mọi lời đồn đoán.
D'Artagnan lên đường cùng bốn người bạn đồng hành, cẩn trọng men theo chiến hào. Hai lính Vệ binh đi ngang hàng cùng cậu, trong khi hai người lính còn lại bám sát ở phía sau.
Họ cứ thế tiến lên dưới sự che chắn kín kẽ của những bờ thành chiến hào, cho đến khi chỉ còn cách pháo đài chừng một trăm bước chân. Tại đây, khi quay đầu nhìn lại, D'Artagnan sửng sốt nhận ra hai người lính đi phía sau đã biến mất tăm từ lúc nào.
Thoạt đầu, cậu cảm thấy có chút gợn lên vì sợ hãi, cho rằng bọn họ đã rớt lại phía sau, nhưng rồi cậu vẫn quả quyết dẫn đầu tiếp tục tiến lên.
Đến đoạn ngoặt của bờ dốc thoai thoải, cả nhóm thấy mình chỉ còn cách pháo đài vỏn vẹn chừng sáu mươi bước. Khắp xung quanh vắng lặng không một bóng người, và khối kiến trúc sừng sững ấy dường như đã bị bỏ hoang.
Ba người trong nhóm cảm tử đang to nhỏ bàn tính xem liệu có nên tiến sát thêm chút nữa hay không, thì đột nhiên, một vòng khói súng đặc quánh bốc lên bao trùm lấy gã khổng lồ bằng đá, và hàng tá viên đạn xé gió rít réo quanh D'Artagnan cùng những người đồng đội.
Bọn họ đã thu được những thông tin cần thiết nhất: pháo đài vẫn đang được canh phòng nghiêm ngặt. Nán lại thêm giây phút nào ở chốn hiểm địa này cũng chỉ là chuốc lấy cái chết vô ích. D'Artagnan và hai người bạn đồng hành liền quay lưng, mở đầu cho một cuộc tháo chạy thục mạng hệt như những kẻ đang trốn chạy tử thần.
Đến được đoạn góc chiến hào vốn dĩ được coi là thành luỹ che chắn cho họ, một trong hai lính Vệ binh bất ngờ gục xuống. Một viên đạn đã cắm phập xuyên qua lồng ngực anh ta. Người còn lại, bình an vô sự, vẫn điên cuồng cắm đầu chạy về phía doanh trại.
D'Artagnan không đành lòng bỏ rơi người đồng đội của mình giữa lằn ranh sinh tử, cậu bèn cúi gập người xuống, cố sức đỡ anh ta dậy để dìu về phòng tuyến. Nhưng đúng lúc đó, hai tiếng súng đanh gọn lại vang lên. Một viên đạn găm thẳng vào đầu người lính Vệ binh đang bị thương, còn viên kia thì bắn vỡ vụn vào một tảng đá, sau khi sượt qua D'Artagnan chỉ trong gang tấc.
Chàng thanh niên quay phắt người lại. Phát súng vừa rồi tuyệt đối không thể bắn ra từ phía pháo đài, bởi nơi đó đã bị khuất sau ngách chiến hào. Ngay lập tức, hình ảnh hai gã lính đào ngũ vụt qua tâm trí cậu, kéo theo ký ức về đám sát thủ nấp trong bóng tối hai đêm trước. Quyết tâm phải làm rõ chân tướng kẻ thù đang rình rập, cậu bèn tương kế tựu kế, buông mình ngã vật lên thi thể người đồng đội như thể đã trúng đạn vong mạng.
Chỉ một thoáng sau, qua khóe mắt, cậu loáng thoáng thấy hai cái đầu nhấp nhô lấp ló phía trên công sự bỏ hoang cách đó chừng ba mươi bước. Quả không sai, chính là hai gã lính khi nãy! D'Artagnan chẳng hề mắc lừa; bọn chúng bám theo cậu chỉ nhằm mục đích hạ sát, hòng đổ vấy tội ác tày trời này cho hòn tên mũi đạn của quân thù.
Lo sợ mục tiêu chỉ mới bị thương và có thể vạch trần tội ác, hai gã rón rén mò lại gần để chắc chắn đã nhổ cỏ tận gốc. Nhưng may mắn thay, mắc mưu vờ chết của chàng Vệ quân, bọn chúng đã hoàn toàn lơ là việc nạp lại đạn cho khẩu súng.
Đợi bọn chúng mò đến cách chừng mười bước, D'Artagnan - người lúc ngã xuống vẫn cẩn thận nắm chặt chuôi kiếm - đột ngột bật vọt lên như lò xo, áp sát ngay bên hông kẻ thù.
Hai gã sát thủ hiểu ngay rằng, nếu chạy về trại mà chưa diệt gọn mục tiêu, thể nào chúng cũng bị cậu vạch tội. Trong cơn cùng quẫn, ý nghĩ đầu tiên nảy lên trong đầu bọn chúng là đào tẩu sang phe địch. Một tên lăm lăm nắm lấy nòng súng, vung lên như một cây chùy nện xuống. Hắn giáng một đòn chí tử về phía D'Artagnan, nhưng chàng trai trẻ lanh lẹ lách mình né thoát. Dù vậy, cú né đòn vô tình mở ra một lối thoát trống trải cho gã ác ôn. Hắn cắm đầu cắm cổ lao thẳng về phía pháo đài. Đám lính La Rochelle canh gác trên pháo đài nào đâu hay biết ý đồ của kẻ đang hùng hục xông tới, liền đồng loạt nổ súng. Gã sát thủ trúng đạn gãy nát vai, đổ gục xuống đất.
Cùng lúc đó, D'Artagnan đã lao sầm vào tên lính còn lại, vung kiếm tấn công dồn dập. Trận giao phong diễn ra chóng vánh; gã khốn kia chẳng có gì để chống đỡ ngoài khẩu súng kíp đã bắn cạn đạn. Lưỡi kiếm sắc lẹm của người Vệ quân trượt dọc theo nòng súng giờ đây đã thành vô dụng, xuyên thẳng qua đùi gã sát thủ. Hắn rú lên rồi khuỵu xuống.
Chớp thời cơ, D'Artagnan kề sát mũi kiếm lạnh ngắt vào cổ họng hắn.
"Ôi, xin đừng giết tôi!" gã ác ôn rên rỉ khóc lóc. "Xin tha mạng, xin tha mạng cho tôi, ngài sĩ quan! Tôi sẽ khai hết mọi chuyện với ngài."
"Bí mật của ngươi liệu có đủ sức nặng để đổi lấy mạng chó của ngươi không?" chàng trai trẻ gằn giọng, cánh tay cầm kiếm vẫn giữ rịt không nhúc nhích.
"Dạ có! Nhất là khi ngài mới đang độ tuổi đôi mươi, độ tuổi đáng giá ngàn vàng với một người có thể hy vọng vào mọi điều tốt đẹp nhất nhờ vào vẻ ngoài khôi ngô và lòng quả cảm như ngài."
"Tên khốn," D'Artagnan quát lớn, "khai mau! Kẻ nào đã thuê ngươi ám sát ta?"
"Là một người đàn bà mà tôi chẳng biết mặt, nhưng mụ ta được gọi là Milady."
"Đã không biết mụ ta, làm sao ngươi lại biết cái tên đó?"
"Tên đồng bọn của tôi quen mụ, hắn gọi mụ ta như thế. Mụ ta trực tiếp giao kèo với hắn, chứ không phải với tôi; trong túi áo hắn giờ vẫn còn cất giữ lá thư do chính tay người đàn bà đó viết. Mụ ta có vẻ coi trọng ngài lắm, theo như những lời tôi nghe hắn kể."
"Thế thì cớ sao ngươi lại vướng vào vụ ám hại hèn hạ này?"
"Hắn rủ rỉ lôi kéo tôi cùng hành sự, thế là tôi nhắm mắt đưa chân."
"Và mụ ta trả cho các ngươi bao nhiêu để đổi lấy cái chiến tích lẫy lừng này hả?"
"Một trăm louis."
"Chà, khá đấy!" chàng trai trẻ bật cười mỉa mai, "xem ra mụ ta đánh giá ta cao ra phết. Một trăm louis cơ à? Thảo nào món hời đó lại trở thành mồi nhử chết người đối với hai tên khốn cùng đinh như các ngươi. Ta thừa hiểu vì sao các ngươi gật đầu, và ta sẽ ban cho ngươi ân xá tha mạng; nhưng phải kèm theo một điều kiện."
"Điều... điều kiện gì thưa ngài?" gã lính lắp bắp, nỗi bất an lại trào dâng khi lờ mờ nhận ra sóng gió vẫn chưa qua.
"Đó là ngươi phải đi tới lấy cho ta bức thư nằm trong túi áo tên đồng bọn đằng kia."
"Nhưng ngài ơi," gã ác ôn thảng thốt kêu gào, "thế chẳng khác nào ngài đẩy tôi vào chỗ chết thêm lần nữa! Làm sao tôi dám lết tới đó lấy thư dưới làn mưa bom bão đạn từ pháo đài dội xuống cơ chứ?"
"Dù thế nào ngươi cũng phải đi lấy lá thư đó, nếu không ta thề ngươi sẽ phơi thây dưới lưỡi kiếm của ta."
"Xin ngài rủ lòng thương tha mạng! Nhân danh người thiếu nữ ngài đem lòng yêu tha thiết, người mà ngài ngỡ đã chết nhưng thực ra vẫn còn sống sờ sờ!" tên cường đạo gào thét, quỳ sụp xuống, chống tay đỡ lấy thân hình đang rũ rượi vì mất máu.
"Làm sao ngươi biết ta có một người thương, và làm sao ngươi biết ta cứ ngỡ nàng đã chết?" D'Artagnan sửng sốt truy vấn.
"Chính nhờ lá thư giấu trong túi tên đồng bọn đằng kia."
"Vậy thì ngươi thấy đấy," D'Artagnan nói như đinh đóng cột, "rằng ta nhất định phải có được bức thư đó bằng mọi giá. Thế nên đừng có chần chừ do dự thêm nửa lời; nếu không, dù ta có tởm lợm việc để lưỡi kiếm vấy máu một tên bẩn thỉu như ngươi thêm lần nữa, ta cũng xin thề trên danh dự của một người lương thiện-" Vừa dứt lời, D'Artagnan liền vung kiếm đầy đe dọa, sát khí đằng đằng khiến gã đàn ông bị thương sởn gai ốc, nhảy nảy người lên.
"Dừng tay, dừng tay đã!" hắn cuống cuồng kêu rú, nỗi kinh hoàng tột độ đã vắt kiệt chút sinh lực tàn tạ của hắn. "Tôi đi... tôi sẽ đi!"
D'Artagnan nhặt lấy khẩu súng kíp của gã lính, lùa hắn đi lên phía trước, rồi thỉnh thoảng dùng mũi kiếm huých vào lưng hối thúc hắn lết về phía xác tên đồng bọn.
Khung cảnh lúc đó mới rùng rợn làm sao! Gã ác ôn để lại một vệt máu đỏ thẫm kéo dài lê thê trên mặt đất nơi hắn đi qua. Khuôn mặt hắn tái mét như tàu lá chuối, cái chết đã cận kề trước mắt, vậy mà hắn vẫn phải trườn bò, gắng thu mình nhích từng chút một để không bị kẻ địch phát hiện, cho đến khi chạm được tới cái xác nằm phơi sương cách đó chừng hai chục bước.
Nỗi khiếp đảm hằn sâu trên khuôn mặt đầm đìa mồ hôi lạnh của hắn khiến D'Artagnan không khỏi mủi lòng. Cậu ném cho hắn một cái nhìn nửa khinh bỉ nửa xót xa, lên tiếng: "Dừng lại đi. Ta sẽ cho ngươi tận mắt thấy thế nào là sự khác biệt một trời một vực giữa người dũng cảm và kẻ hèn nhát như ngươi. Cứ nằm yên đó; ta sẽ đích thân đi."
Thế rồi, với những bước chân uyển chuyển, ánh mắt luôn sắc lẹm đảo quanh cảnh giới động tĩnh của kẻ địch, D'Artagnan khéo léo lợi dụng từng mô đất, từng ngách hầm hào, và nhanh chóng tiếp cận thành công thi thể gã lính thứ hai.
Giờ đây, cậu đứng trước hai sự lựa chọn: tiến hành lục soát ngay tại chỗ, hoặc cõng cái xác về chiến hào, dùng hắn làm bia đỡ đạn rồi mới từ từ khám xét.
D'Artagnan quyết định chọn cách thứ hai. Cậu vừa xốc thân hình nặng trịch của gã sát thủ lên vai thì cũng là lúc hỏa lực quân thù khai hỏa.
Một chấn động nhẹ dội qua, tiếng phập phập khô khốc vang lên khi ba viên đạn đục ngoạm vào da thịt cái xác, kéo theo đó là một tiếng nấc nghẹn ngào cùng cơn co giật run rẩy-bấy nhiêu là đủ để D'Artagnan nhận ra kẻ rắp tâm cướp đi sinh mệnh cậu nay lại vô tình trở thành tấm khiên cứu mạng cậu.
Về đến chiến hào, D'Artagnan quẳng bịch cái xác xuống cạnh gã lính bị thương, kẻ lúc này mặt mày đã trắng bệch như tử thi.
Cậu nhanh tay lục soát. Một chiếc bóp da, một túi tiền xu cộm cộm - có vẻ như là chiến lợi phẩm mà gã ác ôn vừa nhận được - cùng với mấy hộp xúc xắc lỉnh kỉnh, đó là tất thảy gia tài của kẻ bạc mệnh.
D'Artagnan mặc kệ hộp xúc xắc lăn lóc trên đất, ném trả túi tiền cho gã bị thương, rồi sốt sắng mở tung chiếc bóp da.
Vùi lấp giữa đống giấy tờ vụn vặt vô bổ, bức thư mà cậu bất chấp cả mạng sống để giành lấy đây rồi:
"Bởi các ngươi đã ngu ngốc để vuột mất dấu vết của ả đàn bà đó, và giờ ả đang an toàn lẩn trốn trong tu viện - nơi đáng lý ra các ngươi không bao giờ được phép để ả bước chân vào. Vậy nên, chí ít hãy cố mà không để sổng mất gã đàn ông kia. Nhược bằng các ngươi làm hỏng chuyện, các ngươi thừa hiểu bàn tay của ta có thể vươn xa tới mức nào, và các ngươi sẽ phải trả một cái giá cực kỳ đắt đỏ cho một trăm louis đã nhận từ ta."
Bức thư hoàn toàn không có chữ ký. Tuy nhiên, bằng chứng rành rành thế kia thì chắc mẩm là của Milady gửi tới. D'Artagnan cẩn thận cất giữ tờ giấy làm bằng chứng. Sau khi đã yên vị an toàn sau mép chiến hào, cậu tiếp tục tra khảo gã lính bị thương. Hắn run rẩy thú nhận rằng chính hắn và tên đồng bọn vắn số vừa rồi đã lên kế hoạch bắt cóc một thiếu nữ định rời Paris qua ngả rào chắn Barrière de La Villette. Đen đủi thay, chỉ vì mải mê tấp vào quán rượu nhậu nhẹt, chúng đã để sổng mất cỗ xe chỉ trong vòng mười phút ngắn ngủi.
"Thế các ngươi định giở trò gì với nàng ấy?" D'Artagnan xót xa hỏi.
"Chúng tôi được lệnh phải áp giải cô ta đến một tư dinh ở Quảng trường Hoàng gia," gã lính rên rỉ đáp.
"Đúng rồi, đúng là chỗ đó!" D'Artagnan lẩm nhẩm trong miệng; "đó đích thị là sào huyệt của Milady!"
Đến lúc này, chàng trai trẻ bất giác rùng mình. Cậu lờ mờ nhận ra một ngọn lửa hận thù kinh hoàng đang hừng hực thiêu đốt tâm can người đàn bà hiểm độc kia, thúc đẩy ả quyết tâm tước đoạt mạng sống của cậu cùng tất thảy những người cậu trân quý. Làm sao mụ ta lại có thể rành rẽ mọi ngóc ngách bí mật chốn cung đình đến độ moi móc ra được tất cả những chuyện động trời nhường này? Chẳng cần phải nghi ngờ gì nữa, thông tin quý giá này ắt hẳn mụ có được từ chính miệng ngài Hồng y.
Thế nhưng, vượt lên trên tất thảy những hiểm nguy bủa vây, một niềm hân hoan rạo rực chợt len lỏi trong trái tim D'Artagnan. Cậu mừng rỡ nhận ra hoàng hậu chắc chắn đã dò ra được ngục tối - nơi phu nhân Bonacieux đáng thương đang bị giam cầm nhưng vẫn một mực kiên trung - và chính tay hoàng hậu đã giải cứu nàng khỏi chốn lao tù ngột ngạt ấy. Bức thư cậu nhận được từ thiếu nữ, cùng với bóng hình mờ ảo thoảng qua trên con đường Chaillot dạo nọ như một hồn ma, giờ đây đã được sáng tỏ hoàn toàn.
Và hơn thế nữa, đúng như những gì Athos từng tiên liệu, hy vọng tìm lại phu nhân Bonacieux giờ đây không còn là điều viển vông, và một chốn tu viện trang nghiêm cũng chẳng phải là nơi bất khả xâm phạm.
Chính luồng suy nghĩ ấm áp ấy đã thổi bùng lên ngọn lửa khoan dung trong cõi lòng cậu. Cậu xoay người về phía tên lính bị thương - kẻ nãy giờ vẫn đang nơm nớp lo sợ dán mắt vào từng sự thay đổi cảm xúc trên nét mặt cậu - chìa tay ra và dịu giọng nói: "Đứng lên đi, ta sẽ không nhẫn tâm bỏ rơi ngươi ở cái chốn quỷ quái này đâu. Hãy tựa vào vai ta, chúng ta cùng trở về doanh trại."
"Vâng, thưa ngài," gã lính lí nhí đáp lại, dường như vẫn chưa thể tin vào sự độ lượng đến kinh ngạc này, "nhưng ngài đưa tôi về đó... không phải là để lôi tôi ra giá treo cổ đấy chứ?"
"Ta đã hứa là ta giữ lời," cậu đáp gọn lỏn; "đây đã là lần thứ hai ta mở đường hiếu sinh, tha mạng cho ngươi rồi đấy."
Gã lính bị thương xúc động khuỵu rạp xuống, định ôm lấy gót chân vị ân nhân để hôn thêm lần nữa; nhưng D'Artagnan - chẳng còn chút hứng thú nào nấn ná bên một kẻ từng thù ghét mình - đã vội vàng xua tay, cắt ngang tràng giang đại hải những lời tri ân sướt mướt của hắn.
Người lính Vệ quân bỏ chạy ngay khi loạt đạn đầu tiên vang lên đã hớt hải báo tin về cái chết thê thảm của bốn người đồng đội. Vì thế, cả trung đoàn ngỡ ngàng tột độ rồi vỡ òa trong niềm hân hoan tột đỉnh khi thấy chàng trai trẻ bằng xương bằng thịt trở về bình yên vô sự.
D'Artagnan khéo léo lấp liếm vết thương do lưỡi kiếm gây ra trên người gã lính đồng hành bằng một câu chuyện đột kích do cậu bịa đặt ra. Cậu vẽ nên khung cảnh bi tráng về cái chết của người lính kia, cùng những hiểm nguy rình rập mà họ phải đương đầu. Câu chuyện ly kỳ ấy nghiễm nhiên trở thành một chiến công hiển hách của chàng trai trẻ. Cả doanh trại râm ran bàn tán về cuộc viễn chinh dũng cảm suốt cả một ngày dài, và đích thân Điện hạ đã buông lời ngợi khen hết mực. Hơn thế nữa, phần thưởng quý giá nhất từ chiến tích quả cảm này chính là sự bình yên trong tâm hồn mà D'Artagnan tưởng chừng đã đánh mất. D'Artagnan đinh ninh rằng mình có quyền an lòng tĩnh tại, bởi một trong hai kẻ tử thù đã bỏ mạng nơi chiến địa, còn kẻ kia thì nay lại một lòng một dạ quy thuận dưới trướng cậu.
Thế nhưng, chính cái cảm giác thanh thản giả tạo ấy lại càng minh chứng cho một sự thật nghiệt ngã-rằng D'Artagnan vẫn chưa mường tượng hết được con người thực sự của Milady.
-
Một nhánh của đạo Tin lành do nhà thần học John Calvin sáng lập. Tại Pháp, những người theo phái này được gọi chung là phe Huguenot. ↩
-
Hay Jeanne d'Arc (1412-1431), nữ anh hùng dân tộc vĩ đại của Pháp, người đã lãnh đạo quân đội đánh bại quân Anh trong nhiều trận chiến quan trọng thuộc Chiến tranh Trăm Năm, trước khi bị bắt và hỏa thiêu. ↩
-
Ám chỉ François de Lorraine, Công tước de Guise (1519-1563). Ông là vị tướng xuất chúng đã đánh đuổi quân Anh khỏi cảng Calais vào năm 1558, đóng lại cánh cửa cuối cùng của quân Anh trên đất Pháp thời kỳ đó. ↩
-
L'Ordre du Saint-Esprit, dòng hiệp sĩ danh giá nhất của hoàng gia Pháp thời bấy giờ, chỉ dành cho những quý tộc Công giáo tinh hoa trung thành với nhà vua. ↩
-
Một hòn đảo có vị trí chiến lược nằm ngoài khơi, đối diện thành phố La Rochelle. Nơi đây diễn ra nhiều trận chiến ác liệt giữa quân đội Anh và quân hoàng gia Pháp. ↩
-
Một vùng núi ở miền nam nước Pháp. Vào đầu thế kỷ 18, vùng này nổ ra cuộc nổi dậy đẫm máu của phe Tin lành nhằm chống lại sự đàn áp của hoàng gia Công giáo. ↩
-
Sắc lệnh hòa bình do vua Henry IV ban hành năm 1598, trao cho người Tin lành quyền tự do tôn giáo và các quyền chính trị, quân sự tại Pháp. Việc bãi bỏ sắc lệnh này vào năm 1685 đã tước đi mọi quyền lợi của họ. ↩
-
Lit de justice. Một phiên họp Nghị viện vô cùng đặc biệt mà nhà vua đích thân chủ tọa (ngồi trên một chiếc ngai hình giường). Tại đây, nhà vua có quyền ép Nghị viện phải thông qua các sắc lệnh mà không được phép phản đối. ↩
-
Arquebus. Một loại súng cá nhân sơ khai có nòng dài, nhẹ hơn nhưng hỏa lực và tầm bắn yếu hơn súng hỏa mai. Kích cỡ nòng của hai loại súng này khác nhau, nên việc dùng đạn súng đạc cho thấy đây là một vụ ám sát có chủ đích với vũ khí riêng biệt. ↩
Chapter XLI. THE SIEGE OF LA ROCHELLE
The Siege of La Rochelle was one of the great political events of the reign of Louis XIII., and one of the great military enterprises of the cardinal. It is, then, interesting and even necessary that we should say a few words about it, particularly as many details of this siege are connected in too important a manner with the story we have undertaken to relate to allow us to pass it over in silence.
The political plans of the cardinal when he undertook this siege were extensive. Let us unfold them first, and then pass on to the private plans which perhaps had not less influence upon his Eminence than the others.
Of the important cities given up by Henry IV. to the Huguenots as places of safety, there only remained La Rochelle. It became necessary, therefore, to destroy this last bulwark of Calvinism-a dangerous leaven with which the ferments of civil revolt and foreign war were constantly mingling.
Spaniards, Englishmen, and Italian malcontents, adventurers of all nations, and soldiers of fortune of every sect, flocked at the first summons under the standard of the Protestants, and organized themselves like a vast association, whose branches diverged freely over all parts of Europe.
La Rochelle, which had derived a new importance from the ruin of the other Calvinist cities, was, then, the focus of dissensions and ambition. Moreover, its port was the last in the kingdom of France open to the English, and by closing it against England, our eternal enemy, the cardinal completed the work of Joan of Arc and the Duc de Guise.
Thus Bassompierre, who was at once Protestant and Catholic-Protestant by conviction and Catholic as commander of the order of the Holy Ghost; Bassompierre, who was a German by birth and a Frenchman at heart-in short, Bassompierre, who had a distinguished command at the siege of La Rochelle, said, in charging at the head of several other Protestant nobles like himself, “You will see, gentlemen, that we shall be fools enough to take La Rochelle.”
And Bassompierre was right. The cannonade of the Isle of Ré presaged to him the dragonnades of the Cévennes; the taking of La Rochelle was the preface to the revocation of the Edict of Nantes.
We have hinted that by the side of these views of the leveling and simplifying minister, which belong to history, the chronicler is forced to recognize the lesser motives of the amorous man and jealous rival.
Richelieu, as everyone knows, had loved the queen. Was this love a simple political affair, or was it naturally one of those profound passions which Anne of Austria inspired in those who approached her? That we are not able to say; but at all events, we have seen, by the anterior developments of this story, that Buckingham had the advantage over him, and in two or three circumstances, particularly that of the diamond studs, had, thanks to the devotedness of the three Musketeers and the courage and conduct of D’Artagnan, cruelly mystified him.
It was, then, Richelieu’s object, not only to get rid of an enemy of France, but to avenge himself on a rival; but this vengeance must be grand and striking and worthy in every way of a man who held in his hand, as his weapon for combat, the forces of a kingdom.
Richelieu knew that in combating England he combated Buckingham; that in triumphing over England he triumphed over Buckingham-in short, that in humiliating England in the eyes of Europe he humiliated Buckingham in the eyes of the queen.
On his side Buckingham, in pretending to maintain the honor of England, was moved by interests exactly like those of the cardinal. Buckingham also was pursuing a private vengeance. Buckingham could not under any pretense be admitted into France as an ambassador; he wished to enter it as a conqueror.
It resulted from this that the real stake in this game, which two most powerful kingdoms played for the good pleasure of two amorous men, was simply a kind look from Anne of Austria.
The first advantage had been gained by Buckingham. Arriving unexpectedly in sight of the Isle of Ré with ninety vessels and nearly twenty thousand men, he had surprised the Comte de Toiras, who commanded for the king in the Isle, and he had, after a bloody conflict, effected his landing.
Allow us to observe in passing that in this fight perished the Baron de Chantal; that the Baron de Chantal left a little orphan girl eighteen months old, and that this little girl was afterward Mme. de Sévigné.
The Comte de Toiras retired into the citadel St. Martin with his garrison, and threw a hundred men into a little fort called the fort of La Prée.
This event had hastened the resolutions of the cardinal; and till the king and he could take the command of the siege of La Rochelle, which was determined, he had sent Monsieur to direct the first operations, and had ordered all the troops he could dispose of to march toward the theater of war. It was of this detachment, sent as a vanguard, that our friend D’Artagnan formed a part.
The king, as we have said, was to follow as soon as his Bed of Justice had been held; but on rising from his Bed of Justice on the twenty-eighth of June, he felt himself attacked by fever. He was, notwithstanding, anxious to set out; but his illness becoming more serious, he was forced to stop at Villeroy.
Now, whenever the king halted, the Musketeers halted. It followed that D’Artagnan, who was as yet purely and simply in the Guards, found himself, for the time at least, separated from his good friends-Athos, Porthos, and Aramis. This separation, which was no more than an unpleasant circumstance, would have certainly become a cause of serious uneasiness if he had been able to guess by what unknown dangers he was surrounded.
He, however, arrived without accident in the camp established before La Rochelle, on the tenth of the month of September of the year 1627.
Everything was in the same state. The Duke of Buckingham and his English, masters of the Isle of Ré, continued to besiege, but without success, the citadel St. Martin and the fort of La Prée; and hostilities with La Rochelle had commenced, two or three days before, about a fort which the Duc d’Angoulême had caused to be constructed near the city.
The Guards, under the command of M. Dessessart, took up their quarters at the Minimes; but, as we know, D’Artagnan, possessed with ambition to enter the Musketeers, had formed but few friendships among his comrades, and he felt himself isolated and given up to his own reflections.
His reflections were not very cheerful. From the time of his arrival in Paris, he had been mixed up with public affairs; but his own private affairs had made no great progress, either in love or fortune. As to love, the only woman he could have loved was Mme. Bonacieux; and Mme. Bonacieux had disappeared, without his being able to discover what had become of her. As to fortune, he had made-he, humble as he was-an enemy of the cardinal; that is to say, of a man before whom trembled the greatest men of the kingdom, beginning with the king.
That man had the power to crush him, and yet he had not done so. For a mind so perspicuous as that of D’Artagnan, this indulgence was a light by which he caught a glimpse of a better future.
Then he had made himself another enemy, less to be feared, he thought; but nevertheless, he instinctively felt, not to be despised. This enemy was Milady.
In exchange for all this, he had acquired the protection and good will of the queen; but the favor of the queen was at the present time an additional cause of persecution, and her protection, as it was known, protected badly-as witness Chalais and Mme. Bonacieux.
What he had clearly gained in all this was the diamond, worth five or six thousand livres, which he wore on his finger; and even this diamond-supposing that D’Artagnan, in his projects of ambition, wished to keep it, to make it someday a pledge for the gratitude of the queen-had not in the meanwhile, since he could not part with it, more value than the gravel he trod under his feet.
We say the gravel he trod under his feet, for D’Artagnan made these reflections while walking solitarily along a pretty little road which led from the camp to the village of Angoutin. Now, these reflections had led him further than he intended, and the day was beginning to decline when, by the last ray of the setting sun, he thought he saw the barrel of a musket glitter from behind a hedge.
D’Artagnan had a quick eye and a prompt understanding. He comprehended that the musket had not come there of itself, and that he who bore it had not concealed himself behind a hedge with any friendly intentions. He determined, therefore, to direct his course as clear from it as he could when, on the opposite side of the road, from behind a rock, he perceived the extremity of another musket.
This was evidently an ambuscade.
The young man cast a glance at the first musket and saw, with a certain degree of inquietude, that it was leveled in his direction; but as soon as he perceived that the orifice of the barrel was motionless, he threw himself upon the ground. At the same instant the gun was fired, and he heard the whistling of a ball pass over his head.
No time was to be lost. D’Artagnan sprang up with a bound, and at the same instant the ball from the other musket tore up the gravel on the very spot on the road where he had thrown himself with his face to the ground.
D’Artagnan was not one of those foolhardy men who seek a ridiculous death in order that it may be said of them that they did not retreat a single step. Besides, courage was out of the question here; D’Artagnan had fallen into an ambush.
“If there is a third shot,” said he to himself, “I am a lost man.”
He immediately, therefore, took to his heels and ran toward the camp, with the swiftness of the young men of his country, so renowned for their agility; but whatever might be his speed, the first who fired, having had time to reload, fired a second shot, and this time so well aimed that it struck his hat, and carried it ten paces from him.
As he, however, had no other hat, he picked up this as he ran, and arrived at his quarters very pale and quite out of breath. He sat down without saying a word to anybody, and began to reflect.
This event might have three causes:
The first and the most natural was that it might be an ambuscade of the Rochellais, who might not be sorry to kill one of his Majesty’s Guards, because it would be an enemy the less, and this enemy might have a well-furnished purse in his pocket.
D’Artagnan took his hat, examined the hole made by the ball, and shook his head. The ball was not a musket ball-it was an arquebus ball. The accuracy of the aim had first given him the idea that a special weapon had been employed. This could not, then, be a military ambuscade, as the ball was not of the regular caliber.
This might be a kind remembrance of Monsieur the Cardinal. It may be observed that at the very moment when, thanks to the ray of the sun, he perceived the gun barrel, he was thinking with astonishment on the forbearance of his Eminence with respect to him.
But D’Artagnan again shook his head. For people toward whom he had but to put forth his hand, his Eminence had rarely recourse to such means.
It might be a vengeance of Milady; that was most probable.
He tried in vain to remember the faces or dress of the assassins; he had escaped so rapidly that he had not had leisure to notice anything.
“Ah, my poor friends!” murmured D’Artagnan; “where are you? And that you should fail me!”
D’Artagnan passed a very bad night. Three or four times he started up, imagining that a man was approaching his bed for the purpose of stabbing him. Nevertheless, day dawned without darkness having brought any accident.
But D’Artagnan well suspected that that which was deferred was not relinquished.
D’Artagnan remained all day in his quarters, assigning as a reason to himself that the weather was bad.
At nine o’clock the next morning, the drums beat to arms. The Duc d’Orléans visited the posts. The guards were under arms, and D’Artagnan took his place in the midst of his comrades.
Monsieur passed along the front of the line; then all the superior officers approached him to pay their compliments, M. Dessessart, captain of the Guards, as well as the others.
At the expiration of a minute or two, it appeared to D’Artagnan that M. Dessessart made him a sign to approach. He waited for a fresh gesture on the part of his superior, for fear he might be mistaken; but this gesture being repeated, he left the ranks, and advanced to receive orders.
“Monsieur is about to ask for some men of good will for a dangerous mission, but one which will do honor to those who shall accomplish it; and I made you a sign in order that you might hold yourself in readiness.”
“Thanks, my captain!” replied D’Artagnan, who wished for nothing better than an opportunity to distinguish himself under the eye of the lieutenant general.
In fact the Rochellais had made a sortie during the night, and had retaken a bastion of which the royal army had gained possession two days before. The matter was to ascertain, by reconnoitering, how the enemy guarded this bastion.
At the end of a few minutes Monsieur raised his voice, and said, “I want for this mission three or four volunteers, led by a man who can be depended upon.”
“As to the man to be depended upon, I have him under my hand, monsieur,” said M. Dessessart, pointing to D’Artagnan; “and as to the four or five volunteers, Monsieur has but to make his intentions known, and the men will not be wanting.”
“Four men of good will who will risk being killed with me!” said D’Artagnan, raising his sword.
Two of his comrades of the Guards immediately sprang forward, and two other soldiers having joined them, the number was deemed sufficient. D’Artagnan declined all others, being unwilling to take the first chance from those who had the priority.
It was not known whether, after the taking of the bastion, the Rochellais had evacuated it or left a garrison in it; the object then was to examine the place near enough to verify the reports.
D’Artagnan set out with his four companions, and followed the trench; the two Guards marched abreast with him, and the two soldiers followed behind.
They arrived thus, screened by the lining of the trench, till they came within a hundred paces of the bastion. There, on turning round, D’Artagnan perceived that the two soldiers had disappeared.
He thought that, beginning to be afraid, they had stayed behind, and he continued to advance.
At the turning of the counterscarp they found themselves within about sixty paces of the bastion. They saw no one, and the bastion seemed abandoned.
The three composing our forlorn hope were deliberating whether they should proceed any further, when all at once a circle of smoke enveloped the giant of stone, and a dozen balls came whistling around D’Artagnan and his companions.
They knew all they wished to know; the bastion was guarded. A longer stay in this dangerous spot would have been useless imprudence. D’Artagnan and his two companions turned their backs, and commenced a retreat which resembled a flight.
On arriving at the angle of the trench which was to serve them as a rampart, one of the Guardsmen fell. A ball had passed through his breast. The other, who was safe and sound, continued his way toward the camp.
D’Artagnan was not willing to abandon his companion thus, and stooped to raise him and assist him in regaining the lines; but at this moment two shots were fired. One ball struck the head of the already-wounded guard, and the other flattened itself against a rock, after having passed within two inches of D’Artagnan.
The young man turned quickly round, for this attack could not have come from the bastion, which was hidden by the angle of the trench. The idea of the two soldiers who had abandoned him occurred to his mind, and with them he remembered the assassins of two evenings before. He resolved this time to know with whom he had to deal, and fell upon the body of his comrade as if he were dead.
He quickly saw two heads appear above an abandoned work within thirty paces of him; they were the heads of the two soldiers. D’Artagnan had not been deceived; these two men had only followed for the purpose of assassinating him, hoping that the young man’s death would be placed to the account of the enemy.
As he might be only wounded and might denounce their crime, they came up to him with the purpose of making sure. Fortunately, deceived by D’Artagnan’s trick, they neglected to reload their guns.
When they were within ten paces of him, D’Artagnan, who in falling had taken care not to let go his sword, sprang up close to them.
The assassins comprehended that if they fled toward the camp without having killed their man, they should be accused by him; therefore their first idea was to join the enemy. One of them took his gun by the barrel, and used it as he would a club. He aimed a terrible blow at D’Artagnan, who avoided it by springing to one side; but by this movement he left a passage free to the bandit, who darted off toward the bastion. As the Rochellais who guarded the bastion were ignorant of the intentions of the man they saw coming toward them, they fired upon him, and he fell, struck by a ball which broke his shoulder.
Meantime D’Artagnan had thrown himself upon the other soldier, attacking him with his sword. The conflict was not long; the wretch had nothing to defend himself with but his discharged arquebus. The sword of the Guardsman slipped along the barrel of the now-useless weapon, and passed through the thigh of the assassin, who fell.
D’Artagnan immediately placed the point of his sword at his throat.
“Oh, do not kill me!” cried the bandit. “Pardon, pardon, my officer, and I will tell you all.”
“Is your secret of enough importance to me to spare your life for it?” asked the young man, withholding his arm.
“Yes; if you think existence worth anything to a man of twenty, as you are, and who may hope for everything, being handsome and brave, as you are.”
“Wretch,” cried D’Artagnan, “speak quickly! Who employed you to assassinate me?”
“A woman whom I don’t know, but who is called Milady.”
“But if you don’t know this woman, how do you know her name?”
“My comrade knows her, and called her so. It was with him she agreed, and not with me; he even has in his pocket a letter from that person, who attaches great importance to you, as I have heard him say.”
“But how did you become concerned in this villainous affair?”
“He proposed to me to undertake it with him, and I agreed.”
“And how much did she give you for this fine enterprise?”
“A hundred louis.”
“Well, come!” said the young man, laughing, “she thinks I am worth something. A hundred louis? Well, that was a temptation for two wretches like you. I understand why you accepted it, and I grant you my pardon; but upon one condition.”
“What is that?” said the soldier, uneasy at perceiving that all was not over.
“That you will go and fetch me the letter your comrade has in his pocket.”
“But,” cried the bandit, “that is only another way of killing me. How can I go and fetch that letter under the fire of the bastion?”
“You must nevertheless make up your mind to go and get it, or I swear you shall die by my hand.”
“Pardon, monsieur; pity! In the name of that young lady you love, and whom you perhaps believe dead but who is not!” cried the bandit, throwing himself upon his knees and leaning upon his hand-for he began to lose his strength with his blood.
“And how do you know there is a young woman whom I love, and that I believed that woman dead?” asked D’Artagnan.
“By that letter which my comrade has in his pocket.”
“You see, then,” said D’Artagnan, “that I must have that letter. So no more delay, no more hesitation; or else whatever may be my repugnance to soiling my sword a second time with the blood of a wretch like you, I swear by my faith as an honest man-” and at these words D’Artagnan made so fierce a gesture that the wounded man sprang up.
“Stop, stop!” cried he, regaining strength by force of terror. “I will go-I will go!”
D’Artagnan took the soldier’s arquebus, made him go on before him, and urged him toward his companion by pricking him behind with his sword.
It was a frightful thing to see this wretch, leaving a long track of blood on the ground he passed over, pale with approaching death, trying to drag himself along without being seen to the body of his accomplice, which lay twenty paces from him.
Terror was so strongly painted on his face, covered with a cold sweat, that D’Artagnan took pity on him, and casting upon him a look of contempt, “Stop,” said he, “I will show you the difference between a man of courage and such a coward as you. Stay where you are; I will go myself.”
And with a light step, an eye on the watch, observing the movements of the enemy and taking advantage of the accidents of the ground, D’Artagnan succeeded in reaching the second soldier.
There were two means of gaining his object-to search him on the spot, or to carry him away, making a buckler of his body, and search him in the trench.
D’Artagnan preferred the second means, and lifted the assassin onto his shoulders at the moment the enemy fired.
A slight shock, the dull noise of three balls which penetrated the flesh, a last cry, a convulsion of agony, proved to D’Artagnan that the would-be assassin had saved his life.
D’Artagnan regained the trench, and threw the corpse beside the wounded man, who was as pale as death.
Then he began to search. A leather pocketbook, a purse, in which was evidently a part of the sum which the bandit had received, with a dice box and dice, completed the possessions of the dead man.
He left the box and dice where they fell, threw the purse to the wounded man, and eagerly opened the pocketbook.
Among some unimportant papers he found the following letter, that which he had sought at the risk of his life:
“Since you have lost sight of that woman and she is now in safety in the convent, which you should never have allowed her to reach, try, at least, not to miss the man. If you do, you know that my hand stretches far, and that you shall pay very dearly for the hundred louis you have from me.”
No signature. Nevertheless it was plain the letter came from Milady. He consequently kept it as a piece of evidence, and being in safety behind the angle of the trench, he began to interrogate the wounded man. He confessed that he had undertaken with his comrade-the same who was killed-to carry off a young woman who was to leave Paris by the Barrière de La Villette; but having stopped to drink at a cabaret, they had missed the carriage by ten minutes.
“But what were you to do with that woman?” asked D’Artagnan, with anguish.
“We were to have conveyed her to a hôtel in the Place Royale,” said the wounded man.
“Yes, yes!” murmured D’Artagnan; “that’s the place-Milady’s own residence!”
Then the young man tremblingly comprehended what a terrible thirst for vengeance urged this woman on to destroy him, as well as all who loved him, and how well she must be acquainted with the affairs of the court, since she had discovered all. There could be no doubt she owed this information to the cardinal.
But amid all this he perceived, with a feeling of real joy, that the queen must have discovered the prison in which poor Mme. Bonacieux was explaining her devotion, and that she had freed her from that prison; and the letter he had received from the young woman, and her passage along the road of Chaillot like an apparition, were now explained.
Then also, as Athos had predicted, it became possible to find Mme. Bonacieux, and a convent was not impregnable.
This idea completely restored clemency to his heart. He turned toward the wounded man, who had watched with intense anxiety all the various expressions of his countenance, and holding out his arm to him, said, “Come, I will not abandon you thus. Lean upon me, and let us return to the camp.”
“Yes,” said the man, who could scarcely believe in such magnanimity, “but is it not to have me hanged?”
“You have my word,” said he; “for the second time I give you your life.”
The wounded man sank upon his knees, to again kiss the feet of his preserver; but D’Artagnan, who had no longer a motive for staying so near the enemy, abridged the testimonials of his gratitude.
The Guardsman who had returned at the first discharge announced the death of his four companions. They were therefore much astonished and delighted in the regiment when they saw the young man come back safe and sound.
D’Artagnan explained the sword wound of his companion by a sortie which he improvised. He described the death of the other soldier, and the perils they had encountered. This recital was for him the occasion of veritable triumph. The whole army talked of this expedition for a day, and Monsieur paid him his compliments upon it. Besides this, as every great action bears its recompense with it, the brave exploit of D’Artagnan resulted in the restoration of the tranquility he had lost. In fact, D’Artagnan believed that he might be tranquil, as one of his two enemies was killed and the other devoted to his interests.
This tranquillity proved one thing-that D’Artagnan did not yet know Milady.