Chương XLI. CUỘC BAO VÂY LA ROCHELLE

Cuộc chiến bao vây La Rochelle là một trong những sự kiện chính trị vĩ đại nhất triều đại Louis XIII, đồng thời cũng là một chiến dịch quân sự lẫy lừng của Hồng y. Do vậy, một vài dòng phác họa về cuộc chiến này là điều không chỉ thú vị mà còn hết sức cần thiết. Hơn thế nữa, rất nhiều chi tiết của cuộc vây hãm mang mối liên hệ quá đỗi mật thiết với câu chuyện mà chúng ta đang kể, đến mức không thể lặng lẽ lướt qua.

Khi tiến hành cuộc vây hãm này, những toan tính chính trị của Hồng y vô cùng sâu rộng. Hãy để chúng tôi hé mở điều đó trước, rồi mới mạn đàm đến những mưu đồ cá nhân của vị giáo chủ, vốn dĩ cũng chi phối ông mạnh mẽ chẳng kém gì những mưu đồ chính trị kia.

Trong số những thành trì kiên cố mà tiên đế Henry IV từng nhượng lại cho phe Huguenot làm chốn nương thân, giờ đây chỉ còn trơ trọi mỗi La Rochelle. Bởi vậy, phải tận diệt bằng được thành lũy cuối cùng này của phái Calvin1-một ung nhọt nguy hiểm, nơi mầm mống nội chiến và ngoại xâm không ngừng giao kết và sinh sôi.

Ngay từ tiếng gọi đầu tiên dưới ngọn cờ Tin lành, người Tây Ban Nha, người Anh, những kẻ bất mãn gốc Ý, những tay phiêu lưu từ mọi quốc gia, và đám lính đánh thuê của đủ mọi giáo phái, đã ùn ùn kéo đến. Chúng tập hợp lại thành một liên minh rộng lớn, vươn rễ bám sâu tự do khắp mọi ngóc ngách châu Âu.

Vì lẽ đó, La Rochelle, vốn đã vươn lên tầm quan trọng tột bậc nhờ sự sụp đổ của các thành trì Calvin khác, nay trở thành tâm điểm của mọi mầm mống bất đồng và tham vọng. Hơn nữa, đây cũng là bến cảng cuối cùng trên đất Pháp còn mở cửa đón người Anh. Bằng cách đóng sập cánh cửa này trước mũi kẻ thù muôn thuở, ngài Hồng y đã hoàn tất công cuộc dở dang của nữ tướng Joan of Arc2 và Công tước de Guise3.

Thế nên, Bassompierre, một con người mang trong mình cả dòng máu Tin lành lẫn Công giáo-Tin lành bởi đức tin và Công giáo bởi chức danh chỉ huy dòng tu Chúa Thánh Thần4; Bassompierre, mang thân phận người Đức nhưng lại sở hữu trái tim Pháp-nói tóm lại, con người sở hữu uy quyền chỉ huy kiệt xuất tại cuộc vây hãm La Rochelle ấy, khi dẫn đầu đám quý tộc Tin lành xông pha trận mạc, đã từng thốt lên: "Các ngài sẽ thấy, thưa các ngài, rằng chúng ta sẽ đủ ngốc nghếch để đánh chiếm La Rochelle."

Và Bassompierre đã đúng. Loạt đại bác nã gầm trời ở Đảo Ré5 chính là điềm báo cho cuộc đàn áp khốc liệt ở Cévennes6; và sự thất thủ của La Rochelle chẳng qua chỉ là khúc dạo đầu cho việc bãi bỏ Sắc lệnh Nantes7 sau này.

Chúng tôi đã từng bóng gió rằng, bên cạnh nhãn quan mang đậm tính lịch sử của vị Tể tướng vốn luôn chuộng tư duy cào bằng và đơn giản hóa, những người ghi chép sử biên niên cũng buộc phải thừa nhận những động cơ nhỏ nhen hơn của một kẻ đang si tình và một đối thủ đang ghen tuông.

Richelieu, như ai nấy đều tường tận, đã đem lòng yêu hoàng hậu. Tình cảm này đơn thuần chỉ là một nước cờ chính trị, hay là một niềm đam mê sâu thẳm mà nhan sắc kiều diễm của Anne nước Áo đã gieo rắc vào lòng những kẻ cận kề bà? Điều đó, chúng tôi không dám lạm bàn; nhưng dù sao chăng nữa, qua những diễn biến đã qua của câu chuyện, ta đều thấy rõ Buckingham luôn nắm phần hơn. Trong đôi ba bận chạm trán, đặc biệt là vụ những chiếc đinh ghim kim cương, vị Công tước nước Anh, nhờ sự tận tụy của ba chàng Ngự lâm quân cùng lòng quả cảm bạt mạng của D'Artagnan, đã giáng cho Hồng y một vố đau điếng.

Vì vậy, mục tiêu của Richelieu không chỉ dừng lại ở việc triệt hạ một kẻ thù của nước Pháp, mà còn là để rửa hận một tình địch. Nhưng sự trả thù ấy phải thật huy hoàng, vang dội và xứng tầm với vị thế của một con người đang nắm trọn binh quyền của cả một vương quốc trong tay.

Richelieu hiểu rõ: giao chiến với nước Anh chính là giao chiến với Buckingham; quật ngã nước Anh chính là quật ngã Buckingham. Nói tóm lại, bôi tro trát trấu vào mặt nước Anh trước toàn châu Âu, chính là sỉ nhục Buckingham trước mặt hoàng hậu.

Về phần mình, Buckingham, dẫu bề ngoài luôn mượn cớ bảo vệ danh dự nước Anh, thực chất cũng bị sai khiến bởi những động cơ hệt như vị Hồng y. Cả hai cùng theo đuổi một mối tư thù cá nhân. Khi không thể bước vào đất Pháp với tư cách của một đại sứ dưới bất kỳ lý do nào, Buckingham quyết tâm đặt chân đến đó với tư thế của một kẻ chinh phục.

Trớ trêu thay, phần thưởng thực sự trong ván bài đẫm máu mà hai vương quốc hùng mạnh nhất đang bị cuốn vào chỉ để thỏa mãn khao khát của hai kẻ si tình, lại giản đơn chỉ là một ánh nhìn đầy ân sủng từ Anne nước Áo.

Lợi thế ban đầu đã nghiêng về phía Buckingham. Bất thần xuất hiện ngoài khơi Đảo Ré với hạm đội chín mươi chiến thuyền cùng gần hai vạn quân binh, ông đã đánh úp Bá tước de Toiras, người đại diện nhà vua trấn thủ hòn đảo, và sau một trận huyết chiến kinh hoàng, ông đã đổ bộ thành công.

Hãy thứ lỗi cho chúng tôi khi tản mạn đôi chút rằng, trong trận chiến khốc liệt ấy, Nam tước de Chantal đã bỏ mạng sa trường. Cái chết của ông để lại một bé gái mồ côi mới mười tám tháng tuổi, và bé gái ấy sau này chính là phu nhân de Sévigné nức tiếng.

Bá tước de Toiras đành lui quân về cố thủ tại thành lũy St. Martin cùng đội quân đồn trú, đồng thời cắt cử một trăm binh sĩ đóng tại một pháo đài nhỏ mang tên pháo đài La Prée.

Diễn biến này đã thổi bùng quyết tâm của Hồng y. Trong thời gian chờ nhà vua và đích thân ông đến chỉ huy cuộc vây hãm La Rochelle như đã định, Hồng y đã cử Điện hạ (Monsieur) đứng ra điều hành các chiến dịch sơ khởi, đồng thời hạ lệnh cho tất cả các đội quân hiện có cấp tốc hành quân ra tiền tuyến. Chính trong cánh quân tiên phong này, có mặt người bạn D'Artagnan của chúng ta.

Nhà vua, như chúng tôi đã đề cập, định sẽ ngự giá thân chinh ngay sau khi lễ Giường Công lý8 kết thúc. Thế nhưng, vừa dời gót khỏi buổi lễ vào ngày hai mươi tám tháng Sáu, nhà vua bỗng ngã bệnh. Dẫu đang hừng hực khí thế muốn lên đường, cơn sốt ngày một trầm trọng đã buộc ngài phải đóng trại lại tại Villeroy.

Lẽ dĩ nhiên, hễ nhà vua dừng bước, đội Ngự lâm quân cũng phải dừng theo. Chuyện này vô tình khiến D'Artagnan, người lúc bấy giờ mới chỉ là lính Vệ quân, đành phải tạm thời chia tay ba người bằng hữu chí cốt là Athos, Porthos và Aramis. Sự xa cách ấy ban đầu chỉ gieo rắc một nỗi muộn phiền thoáng qua, nhưng chắc chắn sẽ hóa thành nỗi bất an tột độ, nếu chàng mường tượng ra những hiểm nguy vô hình đang bủa vây chờ chực mình.

Dẫu sao, chàng cũng đã đặt chân an toàn đến khu doanh trại được dựng lên trước La Rochelle vào ngày mười tháng Chín năm 1627.

Mọi thứ vẫn dậm chân tại chỗ. Công tước Buckingham cùng quân Anh, những kẻ đang làm chủ Đảo Ré, vẫn ngoan cố nhưng bất thành trong việc vây hãm thành lũy St. Martin và pháo đài La Prée. Trong khi đó, vài ba ngày trước, những cuộc giao tranh thù địch với La Rochelle cũng đã bắt đầu nổ ra quanh một pháo đài mà Công tước d'Angoulême hạ lệnh xây cất gần thành phố.

Đội Vệ quân, dưới trướng của Ông Dessessart, đã đến đóng quân tại Minimes. Song, như chúng ta đã biết, bởi luôn nung nấu tham vọng khoác lên mình chiếc áo choàng Ngự lâm, D'Artagnan kết giao rất ít bạn bè trong đám đồng đội, để rồi giờ đây, chàng thấy mình hoàn toàn bị cô lập và mặc sức buông lơi trong những dòng suy tưởng miên man.

Những dòng suy tưởng ấy chẳng lấy gì làm vui vẻ. Kể từ lúc đặt chân đến Paris, chàng đã bị cuốn phăng vào những mưu đồ quốc gia đại sự; nhưng những chuyện riêng tư thì lại giậm chân tại chỗ, dở dang cả đường tình duyên lẫn công danh. Về tình yêu, hình bóng duy nhất ngự trị trong trái tim chàng là phu nhân Bonacieux; vậy mà nàng đã bặt vô âm tín, còn chàng thì bất lực chẳng thể dò la được tông tích. Về phần công danh, chàng lại tự chuốc lấy-dù phận bọt bèo-một kẻ thù đáng gờm là ngài Hồng y; kẻ mà chỉ cần nghe danh, những bậc quyền uy nhất vương quốc, kể cả nhà vua, cũng phải run lên bần bật.

Người đàn ông ấy dư sức nghiền nát chàng như một con kiến, vậy mà ông ta vẫn nhắm mắt làm ngơ. Với một trí tuệ tinh anh như D'Artagnan, sự nương tay đó giống như một luồng ánh sáng le lói, giúp chàng thấp thoáng thấy được một viễn cảnh xán lạn hơn.

Rồi chàng lại tự rước thêm một kẻ thù khác, kẻ mà chàng đinh ninh là ít đáng sợ hơn; nhưng dẫu sao, linh tính vẫn mách bảo chàng rằng không thể xem thường ả. Kẻ thù đó chính là Milady.

Bù lại cho tất thảy những giông bão ấy, chàng có được sự che chở và ưu ái từ hoàng hậu; thế nhưng, đặc ân của bà lúc này lại chính là mồi lửa thổi bùng thêm những đòn thù khốc liệt, và sự che chở của bà, như ai cũng biết, lại là một tấm khiên vô cùng mỏng manh-như đã từng được chứng minh qua thảm kịch của Chalais và phu nhân Bonacieux.

Thứ duy nhất chàng thực sự nắm trong tay sau ngần ấy sóng gió, là viên kim cương trị giá năm hay sáu ngàn livre lấp lánh trên ngón tay. Song, ngay cả viên kim cương này-giả như D'Artagnan, trong những hoài bão tham vọng của mình, muốn giữ khư khư lấy nó để làm vật bảo chứng cho lòng biết ơn của hoàng hậu về sau-thì lúc này đây, khi chàng chẳng thể rời xa nó nửa bước, nó cũng phỏng có giá trị gì hơn những hòn sỏi lăn lóc dưới gót giày.

Chúng tôi nói là đống sỏi dưới bước chân, vì D'Artagnan mải miết theo đuổi những suy tư ấy trong lúc tản bộ một mình dọc theo con đường mòn tuyệt đẹp nối từ khu trại đến tận ngôi làng Angoutin. Giờ đây, chính những dòng suy nghĩ miên man đã dẫn cậu đi quá xa so với dự tính. Khi ngày đã bắt đầu tàn lụi, nương theo chút ánh sáng le lói cuối cùng của vầng thái dương đang khuất dần, cậu chợt thấy nòng của một khẩu súng hỏa mai lóe sáng từ phía sau bờ rào.

Với đôi mắt tinh anh và trực giác nhạy bén, D'Artagnan lập tức nhận ra khẩu súng hỏa mai ấy chẳng thể tự nhiên mà nằm đó, và kẻ nấp sau bờ rào kia cũng tuyệt nhiên không mang theo chút thiện ý nào. Nhận thức được điều đó, cậu quyết định nhanh chóng chuyển hướng, lùi ra càng xa càng tốt. Thế nhưng, ngay phía bên kia con đường, lấp ló đằng sau một tảng đá, cậu lại tinh mắt phát hiện thêm đầu của một khẩu súng hỏa mai thứ hai.

Rõ ràng, đây là một cái bẫy giăng sẵn.

Chàng thanh niên liếc nhanh về phía khẩu súng đầu tiên, lòng dâng lên nỗi bất an khi thấy nó đang chĩa thẳng về hướng mình. Nhưng ngay khi vừa nhận ra miệng nòng súng đã khóa chặt mục tiêu, cậu lập tức quăng mình nằm rạp xuống mặt đất. Cùng lúc đó, súng nổ vang trời, và cậu nghe rõ tiếng viên đạn rít xé gió sượt qua đỉnh đầu.

Chẳng còn lấy một giây để chần chừ. D'Artagnan dùng sức bật tung người lên không trung bằng một cú nhảy vọt, và cũng ngay khoảnh khắc ấy, viên đạn từ khẩu súng thứ hai găm mạnh xuống mặt đường, xé toạc lớp sỏi đá ngay đúng chỗ cậu vừa nằm úp mặt.

D'Artagnan vốn dĩ không phải là kẻ nông nổi thích đi tìm một cái chết vô nghĩa chỉ để người đời ca tụng rằng mình chẳng bao giờ chùn bước. Hơn nữa, lòng dũng cảm lúc này chẳng phải là chuyện đáng bàn; D'Artagnan đã thực sự rơi vào một ổ phục kích hiểm độc.

"Nếu tiếng súng thứ ba vang lên," cậu tự nhủ lòng, "đời mình coi như tàn."

Nghĩ vậy, cậu liền vắt chân lên cổ mà cắm đầu chạy thục mạng về phía khu trại. Cậu lao đi bằng tốc độ phi thường của những chàng trai quê nhà, vốn xưa nay vẫn nức tiếng về sự lanh lẹ. Nhưng dẫu cậu có chạy nhanh đến đâu, kẻ nổ súng đầu tiên đã kịp có thời gian nạp lại đạn và bóp cò phát thứ hai. Lần này, đường đạn chuẩn xác đến mức găm thẳng vào chiếc mũ của cậu, hất nó bay xa tới cả chục bước chân.

Dù vậy, vì chẳng có lấy chiếc mũ nào khác để thay thế, cậu đành chộp lấy nó trong lúc vẫn đang cắm cổ chạy. Khi về đến khu trại của mình, mặt cậu trắng bệch, thở hồng hộc không ra hơi. Cậu ngồi phịch xuống, chẳng hé răng một lời với ai, rồi bắt đầu chìm vào suy tưởng.

Biến cố vừa rồi có thể bắt nguồn từ ba nguyên do:

Lý do thứ nhất, và cũng hợp lẽ tự nhiên nhất, đây hẳn là một cuộc phục kích của quân La Rochelle. Chắc chắn bọn chúng sẽ chẳng mảy may thương xót khi tiêu diệt được một trong những Vệ quân của Bệ hạ, bởi như thế là bớt đi được một kẻ thù, và biết đâu chừng kẻ thù ấy lại mang một hầu bao rủng rỉnh trong túi.

D'Artagnan cầm chiếc mũ lên, săm soi lỗ thủng do viên đạn để lại rồi khẽ lắc đầu. Đây tuyệt nhiên không phải đạn súng hỏa mai-nó là đạn súng đạc9. Độ chính xác từ đường ngắm ban đầu đã nhen nhóm trong cậu suy đoán rằng bọn chúng đang sử dụng một loại vũ khí đặc chủng. Nếu vậy, đây khó có thể là một cuộc phục kích quân sự thông thường, vì kích cỡ viên đạn này vốn chẳng thông dụng chút nào.

Rất có thể đây là một "món quà lưu niệm" từ ngài Hồng y. Phải chăng đây là sự trùng hợp khi đúng vào khoảnh khắc ánh nắng phản chiếu làm lộ ra nòng súng, cậu lại đang miên man kinh ngạc trước sự khoan dung mà ngài Hồng y dành cho mình.

Nhưng rồi D'Artagnan lại lắc đầu. Đối với những kẻ mà ngài chỉ cần đưa tay ra là có thể tóm gọn, ngài Hồng y hiếm khi phải viện đến những thủ đoạn hạ lưu như thế.

Vậy thì rất có khả năng đó là đòn thù của Milady; điều này xem ra lại có lý hơn cả.

Cậu cố vắt óc hòng nhớ lại chút đường nét khuôn mặt hay trang phục của những kẻ ám sát, nhưng vô ích. Cậu đã chạy trốn quá nhanh, chẳng kịp để tâm ghi nhớ bất cứ điều gì.

"Ôi, những người anh em đáng thương của tôi!" D'Artagnan lẩm bẩm; "các anh đang ở đâu? Sao các anh lại vắng mặt đúng vào lúc này cơ chứ!"

Đêm hôm ấy trôi qua với D'Artagnan thật tồi tệ. Cậu giật mình thon thót tỉnh giấc tới ba, bốn lần, mường tượng ra cảnh một gã đàn ông đang rón rén tiến lại gần giường với ý định đoạt mạng mình. Thế nhưng, bình minh đã rạng mà màn đêm u ám ấy chẳng mang theo tai ương nào.

Dù vậy, linh tính mách bảo D'Artagnan rằng những gì bị trì hoãn hôm nay, chưa hẳn đã được buông tha vào ngày mai.

D'Artagnan giam mình trong khu trại suốt cả ngày hôm đó, tự viện cớ rằng thời tiết quá đỗi tồi tệ.

Chín giờ sáng hôm sau, tiếng trống báo động dồn dập vang lên. Công tước d'Orléans đích thân đi thị sát các trạm gác. Đội vệ binh nhanh chóng tập hợp chỉnh tề, và D'Artagnan cũng đã vào vị trí giữa những người đồng đội.

Điện hạ chậm rãi bước dọc theo hàng quân. Ngay sau đó, tất cả các sĩ quan chỉ huy đều bước tới để bày tỏ lòng tôn kính, trong đó có cả ông Dessessart, viên đội trưởng đội Vệ binh, cùng với những người khác.

Một hai phút trôi qua, D'Artagnan dường như nhận thấy ông Dessessart đang ra hiệu cho mình tiến lại gần. Cậu nán lại chờ một cử chỉ rõ ràng hơn từ vị chỉ huy, e rằng bản thân có thể nhìn nhầm; nhưng khi cái khoát tay ấy lặp lại lần nữa, cậu lập tức rời khỏi hàng ngũ, bước tới để đợi lệnh.

"Điện hạ chuẩn bị cần vài người tình nguyện cho một nhiệm vụ vô cùng hiểm nguy, nhưng cũng là một chiến công mang lại vinh quang chói lọi cho những ai hoàn thành nó; và ta ra hiệu cho cậu để cậu chuẩn bị sẵn sàng tinh thần."

"Cảm ơn ngài, đại úy!" D'Artagnan đáp lời. Lúc này, cậu chẳng màng đến điều gì hơn là một cơ hội để khẳng định bản thân trước đôi mắt tinh tường của ngài trung tướng.

Thực tình mà nói, quân Rochellais đã mở một cuộc đột kích trong đêm tối, chiếm lại bốt pháo đài mà quân đội hoàng gia vừa gian khổ giành được hai ngày trước. Vấn đề cấp bách hiện tại là phải lập tức do thám để nắm rõ xem kẻ thù đang bố trí canh gác pháo đài này nghiêm ngặt đến mức nào.

Chỉ vài phút sau, Điện hạ cất giọng dõng dạc: "Ta cần ba đến bốn người tình nguyện tham gia nhiệm vụ này, và phải được dẫn dắt bởi một người đáng để gửi gắm niềm tin."

"Bẩm Điện hạ, đối với một người đáng tin cậy, tôi có ngay cậu thanh niên này dưới trướng," ông Dessessart nói, tay chỉ về phía D'Artagnan; "còn về phần bốn hay năm tình nguyện viên, Điện hạ chỉ việc truyền lệnh, chắc chắn sẽ không thiếu người gan dạ sẵn sàng xông pha."

"Cần bốn người tình nguyện sẵn sàng liều mạng cùng tôi!" D'Artagnan hô lớn, đồng thời tuốt thanh kiếm bạc vung lên cao.

Ngay lập tức, hai đồng đội của cậu trong đội Vệ binh bước lên phía trước, và kéo theo đó là hai người lính khác cùng nhập bọn; như vậy quân số đã đủ. D'Artagnan từ chối tất cả những người tiến lên sau, bởi lẽ cậu không muốn tước đoạt mất cơ hội của những người đã nhanh chân xông pha từ giây phút đầu.

Không một ai rõ liệu quân Rochellais sau khi tái chiếm pháo đài đã rút đi hay vẫn để lại một đội đồn trú cố thủ trong đó. Do đó, mục tiêu của cả nhóm là phải tiếp cận thật gần tụ điểm này để thu thập thông tin, xác minh lại mọi lời đồn đoán.

D'Artagnan lên đường cùng bốn người bạn đồng hành, cẩn trọng men theo chiến hào. Hai lính Vệ binh đi ngang hàng cùng cậu, trong khi hai người lính còn lại bám sát ở phía sau.

Họ cứ thế tiến lên dưới sự che chắn kín kẽ của những bờ thành chiến hào, cho đến khi chỉ còn cách pháo đài chừng một trăm bước chân. Tại đây, khi quay đầu nhìn lại, D'Artagnan sửng sốt nhận ra hai người lính đi phía sau đã biến mất tăm từ lúc nào.

Thoạt đầu, cậu cảm thấy có chút gợn lên vì sợ hãi, cho rằng bọn họ đã rớt lại phía sau, nhưng rồi cậu vẫn quả quyết dẫn đầu tiếp tục tiến lên.

Đến đoạn ngoặt của bờ dốc thoai thoải, cả nhóm thấy mình chỉ còn cách pháo đài vỏn vẹn chừng sáu mươi bước. Khắp xung quanh vắng lặng không một bóng người, và khối kiến trúc sừng sững ấy dường như đã bị bỏ hoang.

Ba người trong nhóm cảm tử đang to nhỏ bàn tính xem liệu có nên tiến sát thêm chút nữa hay không, thì đột nhiên, một vòng khói súng đặc quánh bốc lên bao trùm lấy gã khổng lồ bằng đá, và hàng tá viên đạn xé gió rít réo quanh D'Artagnan cùng những người đồng đội.

Bọn họ đã thu được những thông tin cần thiết nhất: pháo đài vẫn đang được canh phòng nghiêm ngặt. Nán lại thêm giây phút nào ở chốn hiểm địa này cũng chỉ là chuốc lấy cái chết vô ích. D'Artagnan và hai người bạn đồng hành liền quay lưng, mở đầu cho một cuộc tháo chạy thục mạng hệt như những kẻ đang trốn chạy tử thần.

Đến được đoạn góc chiến hào vốn dĩ được coi là thành luỹ che chắn cho họ, một trong hai lính Vệ binh bất ngờ gục xuống. Một viên đạn đã cắm phập xuyên qua lồng ngực anh ta. Người còn lại, bình an vô sự, vẫn điên cuồng cắm đầu chạy về phía doanh trại.

D'Artagnan không đành lòng bỏ rơi người đồng đội của mình giữa lằn ranh sinh tử, cậu bèn cúi gập người xuống, cố sức đỡ anh ta dậy để dìu về phòng tuyến. Nhưng đúng lúc đó, hai tiếng súng đanh gọn lại vang lên. Một viên đạn găm thẳng vào đầu người lính Vệ binh đang bị thương, còn viên kia thì bắn vỡ vụn vào một tảng đá, sau khi sượt qua D'Artagnan chỉ trong gang tấc.

Chàng thanh niên quay phắt người lại. Phát súng vừa rồi tuyệt đối không thể bắn ra từ phía pháo đài, bởi nơi đó đã bị khuất sau ngách chiến hào. Ngay lập tức, hình ảnh hai gã lính đào ngũ vụt qua tâm trí cậu, kéo theo ký ức về đám sát thủ nấp trong bóng tối hai đêm trước. Quyết tâm phải làm rõ chân tướng kẻ thù đang rình rập, cậu bèn tương kế tựu kế, buông mình ngã vật lên thi thể người đồng đội như thể đã trúng đạn vong mạng.

Chỉ một thoáng sau, qua khóe mắt, cậu loáng thoáng thấy hai cái đầu nhấp nhô lấp ló phía trên công sự bỏ hoang cách đó chừng ba mươi bước. Quả không sai, chính là hai gã lính khi nãy! D'Artagnan chẳng hề mắc lừa; bọn chúng bám theo cậu chỉ nhằm mục đích hạ sát, hòng đổ vấy tội ác tày trời này cho hòn tên mũi đạn của quân thù.

Lo sợ mục tiêu chỉ mới bị thương và có thể vạch trần tội ác, hai gã rón rén mò lại gần để chắc chắn đã nhổ cỏ tận gốc. Nhưng may mắn thay, mắc mưu vờ chết của chàng Vệ quân, bọn chúng đã hoàn toàn lơ là việc nạp lại đạn cho khẩu súng.

Đợi bọn chúng mò đến cách chừng mười bước, D'Artagnan - người lúc ngã xuống vẫn cẩn thận nắm chặt chuôi kiếm - đột ngột bật vọt lên như lò xo, áp sát ngay bên hông kẻ thù.

Hai gã sát thủ hiểu ngay rằng, nếu chạy về trại mà chưa diệt gọn mục tiêu, thể nào chúng cũng bị cậu vạch tội. Trong cơn cùng quẫn, ý nghĩ đầu tiên nảy lên trong đầu bọn chúng là đào tẩu sang phe địch. Một tên lăm lăm nắm lấy nòng súng, vung lên như một cây chùy nện xuống. Hắn giáng một đòn chí tử về phía D'Artagnan, nhưng chàng trai trẻ lanh lẹ lách mình né thoát. Dù vậy, cú né đòn vô tình mở ra một lối thoát trống trải cho gã ác ôn. Hắn cắm đầu cắm cổ lao thẳng về phía pháo đài. Đám lính La Rochelle canh gác trên pháo đài nào đâu hay biết ý đồ của kẻ đang hùng hục xông tới, liền đồng loạt nổ súng. Gã sát thủ trúng đạn gãy nát vai, đổ gục xuống đất.

Cùng lúc đó, D'Artagnan đã lao sầm vào tên lính còn lại, vung kiếm tấn công dồn dập. Trận giao phong diễn ra chóng vánh; gã khốn kia chẳng có gì để chống đỡ ngoài khẩu súng kíp đã bắn cạn đạn. Lưỡi kiếm sắc lẹm của người Vệ quân trượt dọc theo nòng súng giờ đây đã thành vô dụng, xuyên thẳng qua đùi gã sát thủ. Hắn rú lên rồi khuỵu xuống.

Chớp thời cơ, D'Artagnan kề sát mũi kiếm lạnh ngắt vào cổ họng hắn.

"Ôi, xin đừng giết tôi!" gã ác ôn rên rỉ khóc lóc. "Xin tha mạng, xin tha mạng cho tôi, ngài sĩ quan! Tôi sẽ khai hết mọi chuyện với ngài."

"Bí mật của ngươi liệu có đủ sức nặng để đổi lấy mạng chó của ngươi không?" chàng trai trẻ gằn giọng, cánh tay cầm kiếm vẫn giữ rịt không nhúc nhích.

"Dạ có! Nhất là khi ngài mới đang độ tuổi đôi mươi, độ tuổi đáng giá ngàn vàng với một người có thể hy vọng vào mọi điều tốt đẹp nhất nhờ vào vẻ ngoài khôi ngô và lòng quả cảm như ngài."

"Tên khốn," D'Artagnan quát lớn, "khai mau! Kẻ nào đã thuê ngươi ám sát ta?"

"Là một người đàn bà mà tôi chẳng biết mặt, nhưng mụ ta được gọi là Milady."

"Đã không biết mụ ta, làm sao ngươi lại biết cái tên đó?"

"Tên đồng bọn của tôi quen mụ, hắn gọi mụ ta như thế. Mụ ta trực tiếp giao kèo với hắn, chứ không phải với tôi; trong túi áo hắn giờ vẫn còn cất giữ lá thư do chính tay người đàn bà đó viết. Mụ ta có vẻ coi trọng ngài lắm, theo như những lời tôi nghe hắn kể."

"Thế thì cớ sao ngươi lại vướng vào vụ ám hại hèn hạ này?"

"Hắn rủ rỉ lôi kéo tôi cùng hành sự, thế là tôi nhắm mắt đưa chân."

"Và mụ ta trả cho các ngươi bao nhiêu để đổi lấy cái chiến tích lẫy lừng này hả?"

"Một trăm louis."

"Chà, khá đấy!" chàng trai trẻ bật cười mỉa mai, "xem ra mụ ta đánh giá ta cao ra phết. Một trăm louis cơ à? Thảo nào món hời đó lại trở thành mồi nhử chết người đối với hai tên khốn cùng đinh như các ngươi. Ta thừa hiểu vì sao các ngươi gật đầu, và ta sẽ ban cho ngươi ân xá tha mạng; nhưng phải kèm theo một điều kiện."

"Điều... điều kiện gì thưa ngài?" gã lính lắp bắp, nỗi bất an lại trào dâng khi lờ mờ nhận ra sóng gió vẫn chưa qua.

"Đó là ngươi phải đi tới lấy cho ta bức thư nằm trong túi áo tên đồng bọn đằng kia."

"Nhưng ngài ơi," gã ác ôn thảng thốt kêu gào, "thế chẳng khác nào ngài đẩy tôi vào chỗ chết thêm lần nữa! Làm sao tôi dám lết tới đó lấy thư dưới làn mưa bom bão đạn từ pháo đài dội xuống cơ chứ?"

"Dù thế nào ngươi cũng phải đi lấy lá thư đó, nếu không ta thề ngươi sẽ phơi thây dưới lưỡi kiếm của ta."

"Xin ngài rủ lòng thương tha mạng! Nhân danh người thiếu nữ ngài đem lòng yêu tha thiết, người mà ngài ngỡ đã chết nhưng thực ra vẫn còn sống sờ sờ!" tên cường đạo gào thét, quỳ sụp xuống, chống tay đỡ lấy thân hình đang rũ rượi vì mất máu.

"Làm sao ngươi biết ta có một người thương, và làm sao ngươi biết ta cứ ngỡ nàng đã chết?" D'Artagnan sửng sốt truy vấn.

"Chính nhờ lá thư giấu trong túi tên đồng bọn đằng kia."

"Vậy thì ngươi thấy đấy," D'Artagnan nói như đinh đóng cột, "rằng ta nhất định phải có được bức thư đó bằng mọi giá. Thế nên đừng có chần chừ do dự thêm nửa lời; nếu không, dù ta có tởm lợm việc để lưỡi kiếm vấy máu một tên bẩn thỉu như ngươi thêm lần nữa, ta cũng xin thề trên danh dự của một người lương thiện-" Vừa dứt lời, D'Artagnan liền vung kiếm đầy đe dọa, sát khí đằng đằng khiến gã đàn ông bị thương sởn gai ốc, nhảy nảy người lên.

"Dừng tay, dừng tay đã!" hắn cuống cuồng kêu rú, nỗi kinh hoàng tột độ đã vắt kiệt chút sinh lực tàn tạ của hắn. "Tôi đi... tôi sẽ đi!"

D'Artagnan nhặt lấy khẩu súng kíp của gã lính, lùa hắn đi lên phía trước, rồi thỉnh thoảng dùng mũi kiếm huých vào lưng hối thúc hắn lết về phía xác tên đồng bọn.

Khung cảnh lúc đó mới rùng rợn làm sao! Gã ác ôn để lại một vệt máu đỏ thẫm kéo dài lê thê trên mặt đất nơi hắn đi qua. Khuôn mặt hắn tái mét như tàu lá chuối, cái chết đã cận kề trước mắt, vậy mà hắn vẫn phải trườn bò, gắng thu mình nhích từng chút một để không bị kẻ địch phát hiện, cho đến khi chạm được tới cái xác nằm phơi sương cách đó chừng hai chục bước.

Nỗi khiếp đảm hằn sâu trên khuôn mặt đầm đìa mồ hôi lạnh của hắn khiến D'Artagnan không khỏi mủi lòng. Cậu ném cho hắn một cái nhìn nửa khinh bỉ nửa xót xa, lên tiếng: "Dừng lại đi. Ta sẽ cho ngươi tận mắt thấy thế nào là sự khác biệt một trời một vực giữa người dũng cảm và kẻ hèn nhát như ngươi. Cứ nằm yên đó; ta sẽ đích thân đi."

Thế rồi, với những bước chân uyển chuyển, ánh mắt luôn sắc lẹm đảo quanh cảnh giới động tĩnh của kẻ địch, D'Artagnan khéo léo lợi dụng từng mô đất, từng ngách hầm hào, và nhanh chóng tiếp cận thành công thi thể gã lính thứ hai.

Giờ đây, cậu đứng trước hai sự lựa chọn: tiến hành lục soát ngay tại chỗ, hoặc cõng cái xác về chiến hào, dùng hắn làm bia đỡ đạn rồi mới từ từ khám xét.

D'Artagnan quyết định chọn cách thứ hai. Cậu vừa xốc thân hình nặng trịch của gã sát thủ lên vai thì cũng là lúc hỏa lực quân thù khai hỏa.

Một chấn động nhẹ dội qua, tiếng phập phập khô khốc vang lên khi ba viên đạn đục ngoạm vào da thịt cái xác, kéo theo đó là một tiếng nấc nghẹn ngào cùng cơn co giật run rẩy-bấy nhiêu là đủ để D'Artagnan nhận ra kẻ rắp tâm cướp đi sinh mệnh cậu nay lại vô tình trở thành tấm khiên cứu mạng cậu.

Về đến chiến hào, D'Artagnan quẳng bịch cái xác xuống cạnh gã lính bị thương, kẻ lúc này mặt mày đã trắng bệch như tử thi.

Cậu nhanh tay lục soát. Một chiếc bóp da, một túi tiền xu cộm cộm - có vẻ như là chiến lợi phẩm mà gã ác ôn vừa nhận được - cùng với mấy hộp xúc xắc lỉnh kỉnh, đó là tất thảy gia tài của kẻ bạc mệnh.

D'Artagnan mặc kệ hộp xúc xắc lăn lóc trên đất, ném trả túi tiền cho gã bị thương, rồi sốt sắng mở tung chiếc bóp da.

Vùi lấp giữa đống giấy tờ vụn vặt vô bổ, bức thư mà cậu bất chấp cả mạng sống để giành lấy đây rồi:

"Bởi các ngươi đã ngu ngốc để vuột mất dấu vết của ả đàn bà đó, và giờ ả đang an toàn lẩn trốn trong tu viện - nơi đáng lý ra các ngươi không bao giờ được phép để ả bước chân vào. Vậy nên, chí ít hãy cố mà không để sổng mất gã đàn ông kia. Nhược bằng các ngươi làm hỏng chuyện, các ngươi thừa hiểu bàn tay của ta có thể vươn xa tới mức nào, và các ngươi sẽ phải trả một cái giá cực kỳ đắt đỏ cho một trăm louis đã nhận từ ta."

Bức thư hoàn toàn không có chữ ký. Tuy nhiên, bằng chứng rành rành thế kia thì chắc mẩm là của Milady gửi tới. D'Artagnan cẩn thận cất giữ tờ giấy làm bằng chứng. Sau khi đã yên vị an toàn sau mép chiến hào, cậu tiếp tục tra khảo gã lính bị thương. Hắn run rẩy thú nhận rằng chính hắn và tên đồng bọn vắn số vừa rồi đã lên kế hoạch bắt cóc một thiếu nữ định rời Paris qua ngả rào chắn Barrière de La Villette. Đen đủi thay, chỉ vì mải mê tấp vào quán rượu nhậu nhẹt, chúng đã để sổng mất cỗ xe chỉ trong vòng mười phút ngắn ngủi.

"Thế các ngươi định giở trò gì với nàng ấy?" D'Artagnan xót xa hỏi.

"Chúng tôi được lệnh phải áp giải cô ta đến một tư dinh ở Quảng trường Hoàng gia," gã lính rên rỉ đáp.

"Đúng rồi, đúng là chỗ đó!" D'Artagnan lẩm nhẩm trong miệng; "đó đích thị là sào huyệt của Milady!"

Đến lúc này, chàng trai trẻ bất giác rùng mình. Cậu lờ mờ nhận ra một ngọn lửa hận thù kinh hoàng đang hừng hực thiêu đốt tâm can người đàn bà hiểm độc kia, thúc đẩy ả quyết tâm tước đoạt mạng sống của cậu cùng tất thảy những người cậu trân quý. Làm sao mụ ta lại có thể rành rẽ mọi ngóc ngách bí mật chốn cung đình đến độ moi móc ra được tất cả những chuyện động trời nhường này? Chẳng cần phải nghi ngờ gì nữa, thông tin quý giá này ắt hẳn mụ có được từ chính miệng ngài Hồng y.

Thế nhưng, vượt lên trên tất thảy những hiểm nguy bủa vây, một niềm hân hoan rạo rực chợt len lỏi trong trái tim D'Artagnan. Cậu mừng rỡ nhận ra hoàng hậu chắc chắn đã dò ra được ngục tối - nơi phu nhân Bonacieux đáng thương đang bị giam cầm nhưng vẫn một mực kiên trung - và chính tay hoàng hậu đã giải cứu nàng khỏi chốn lao tù ngột ngạt ấy. Bức thư cậu nhận được từ thiếu nữ, cùng với bóng hình mờ ảo thoảng qua trên con đường Chaillot dạo nọ như một hồn ma, giờ đây đã được sáng tỏ hoàn toàn.

Và hơn thế nữa, đúng như những gì Athos từng tiên liệu, hy vọng tìm lại phu nhân Bonacieux giờ đây không còn là điều viển vông, và một chốn tu viện trang nghiêm cũng chẳng phải là nơi bất khả xâm phạm.

Chính luồng suy nghĩ ấm áp ấy đã thổi bùng lên ngọn lửa khoan dung trong cõi lòng cậu. Cậu xoay người về phía tên lính bị thương - kẻ nãy giờ vẫn đang nơm nớp lo sợ dán mắt vào từng sự thay đổi cảm xúc trên nét mặt cậu - chìa tay ra và dịu giọng nói: "Đứng lên đi, ta sẽ không nhẫn tâm bỏ rơi ngươi ở cái chốn quỷ quái này đâu. Hãy tựa vào vai ta, chúng ta cùng trở về doanh trại."

"Vâng, thưa ngài," gã lính lí nhí đáp lại, dường như vẫn chưa thể tin vào sự độ lượng đến kinh ngạc này, "nhưng ngài đưa tôi về đó... không phải là để lôi tôi ra giá treo cổ đấy chứ?"

"Ta đã hứa là ta giữ lời," cậu đáp gọn lỏn; "đây đã là lần thứ hai ta mở đường hiếu sinh, tha mạng cho ngươi rồi đấy."

Gã lính bị thương xúc động khuỵu rạp xuống, định ôm lấy gót chân vị ân nhân để hôn thêm lần nữa; nhưng D'Artagnan - chẳng còn chút hứng thú nào nấn ná bên một kẻ từng thù ghét mình - đã vội vàng xua tay, cắt ngang tràng giang đại hải những lời tri ân sướt mướt của hắn.

Người lính Vệ quân bỏ chạy ngay khi loạt đạn đầu tiên vang lên đã hớt hải báo tin về cái chết thê thảm của bốn người đồng đội. Vì thế, cả trung đoàn ngỡ ngàng tột độ rồi vỡ òa trong niềm hân hoan tột đỉnh khi thấy chàng trai trẻ bằng xương bằng thịt trở về bình yên vô sự.

D'Artagnan khéo léo lấp liếm vết thương do lưỡi kiếm gây ra trên người gã lính đồng hành bằng một câu chuyện đột kích do cậu bịa đặt ra. Cậu vẽ nên khung cảnh bi tráng về cái chết của người lính kia, cùng những hiểm nguy rình rập mà họ phải đương đầu. Câu chuyện ly kỳ ấy nghiễm nhiên trở thành một chiến công hiển hách của chàng trai trẻ. Cả doanh trại râm ran bàn tán về cuộc viễn chinh dũng cảm suốt cả một ngày dài, và đích thân Điện hạ đã buông lời ngợi khen hết mực. Hơn thế nữa, phần thưởng quý giá nhất từ chiến tích quả cảm này chính là sự bình yên trong tâm hồn mà D'Artagnan tưởng chừng đã đánh mất. D'Artagnan đinh ninh rằng mình có quyền an lòng tĩnh tại, bởi một trong hai kẻ tử thù đã bỏ mạng nơi chiến địa, còn kẻ kia thì nay lại một lòng một dạ quy thuận dưới trướng cậu.

Thế nhưng, chính cái cảm giác thanh thản giả tạo ấy lại càng minh chứng cho một sự thật nghiệt ngã-rằng D'Artagnan vẫn chưa mường tượng hết được con người thực sự của Milady.



  1. Một nhánh của đạo Tin lành do nhà thần học John Calvin sáng lập. Tại Pháp, những người theo phái này được gọi chung là phe Huguenot. 

  2. Hay Jeanne d'Arc (1412-1431), nữ anh hùng dân tộc vĩ đại của Pháp, người đã lãnh đạo quân đội đánh bại quân Anh trong nhiều trận chiến quan trọng thuộc Chiến tranh Trăm Năm, trước khi bị bắt và hỏa thiêu. 

  3. Ám chỉ François de Lorraine, Công tước de Guise (1519-1563). Ông là vị tướng xuất chúng đã đánh đuổi quân Anh khỏi cảng Calais vào năm 1558, đóng lại cánh cửa cuối cùng của quân Anh trên đất Pháp thời kỳ đó. 

  4. L'Ordre du Saint-Esprit, dòng hiệp sĩ danh giá nhất của hoàng gia Pháp thời bấy giờ, chỉ dành cho những quý tộc Công giáo tinh hoa trung thành với nhà vua. 

  5. Một hòn đảo có vị trí chiến lược nằm ngoài khơi, đối diện thành phố La Rochelle. Nơi đây diễn ra nhiều trận chiến ác liệt giữa quân đội Anh và quân hoàng gia Pháp. 

  6. Một vùng núi ở miền nam nước Pháp. Vào đầu thế kỷ 18, vùng này nổ ra cuộc nổi dậy đẫm máu của phe Tin lành nhằm chống lại sự đàn áp của hoàng gia Công giáo. 

  7. Sắc lệnh hòa bình do vua Henry IV ban hành năm 1598, trao cho người Tin lành quyền tự do tôn giáo và các quyền chính trị, quân sự tại Pháp. Việc bãi bỏ sắc lệnh này vào năm 1685 đã tước đi mọi quyền lợi của họ. 

  8. Lit de justice. Một phiên họp Nghị viện vô cùng đặc biệt mà nhà vua đích thân chủ tọa (ngồi trên một chiếc ngai hình giường). Tại đây, nhà vua có quyền ép Nghị viện phải thông qua các sắc lệnh mà không được phép phản đối. 

  9. Arquebus. Một loại súng cá nhân sơ khai có nòng dài, nhẹ hơn nhưng hỏa lực và tầm bắn yếu hơn súng hỏa mai. Kích cỡ nòng của hai loại súng này khác nhau, nên việc dùng đạn súng đạc cho thấy đây là một vụ ám sát có chủ đích với vũ khí riêng biệt.