Chương LI. SĨ QUAN
Trong lúc đó, vị Giáo chủ vẫn bồn chồn ngóng chờ tin tức từ nước Anh. Thế nhưng, mọi luồng tin đưa về chỉ toàn chất chứa những lời đe dọa và những điều bực dọc.
Tuy La Rochelle đã nằm gọn trong vòng vây và chiến thắng dường như nắm chắc trong tay-nhờ vào những biện pháp phòng thủ cẩn mật, và đặc biệt là con đê lớn chặn đứng mọi ngả đường tiến vào thành phố-nhưng cuộc phong tỏa rất có thể sẽ còn kéo dài lê thê. Tình cảnh ấy chẳng khác nào một vết nhơ sỉ nhục đối với quân đội của nhà vua, đồng thời đem lại biết bao phiền toái cho Giáo chủ. Đúng là ngài chẳng còn bận tâm đến việc châm ngòi nổ cho mâu thuẫn giữa vua Louis XIII và vương hậu Anne nước Áo-bởi mưu đồ đó đã an bài-nhưng ngài lại phải đứng ra dàn xếp rắc rối cho ngài de Bassompierre, người đang có hiềm khích với Công tước d’Angoulême.
Về phần Đức ngài đệ nhị1, người khơi mào cuộc vây hãm, lại thản nhiên phủi tay, đẩy toàn bộ trọng trách kết thúc chiến dịch sang cho Giáo chủ.
Bên trong thành phố, dẫu ngài thị trưởng có kiên gan đến nhường nào, thì những mầm mống nổi loạn đòi đầu hàng cũng đã rục rịch nhen nhóm. Trước tình thế đó, thị trưởng đành ra tay treo cổ những kẻ cầm đầu. Vụ hành quyết lập tức dập tắt sự phẫn nộ của đám đông bất mãn, khiến họ ngậm ngùi cam chịu chết đói-bởi dẫu sao cái chết vì cạn lương thực vẫn đến từ từ và còn chút hy vọng, chứ chẳng chớp nhoáng và tuyệt vọng như sợi thòng lọng siết cổ.
Về phía quân bao vây, dăm bữa nửa tháng họ lại tóm được vài tên sứ giả do người dân La Rochelle cử đi tìm Buckingham, hoặc lũ gián điệp mà Buckingham phái đến phe Rochellais. Bất kể là ai, các phiên xử đều khép lại chớp nhoáng. Giáo chủ chỉ phán đúng hai chữ sắc lạnh: "Treo cổ!" Nhà vua thường được mời tới chứng kiến buổi hành hình. Ngài lê bước uể oải, tìm một góc khuất tầm nhìn để dò xét từng chi tiết. Thi thoảng, những cảnh tượng ấy khơi gợi nơi ngài chút thú vui nho nhỏ, giúp ngài có thêm kiên nhẫn bám trụ lại chiến trường. Dù vậy, bấy nhiêu đó vẫn chẳng đủ xua đi nỗi chán chường tột độ hay những tiếng càm ràm muốn quay về Paris. Đến mức, nếu không có những vụ hành quyết sứ giả và gián điệp để khuây khỏa, vị Giáo chủ dù mưu sâu kế hiểm đến đâu, hẳn cũng phải vò đầu bứt tai chẳng biết xoay xở thế nào với quân vương.
Thế nhưng, thời gian cứ lạnh lùng trôi, và người dân La Rochelle vẫn nhất quyết không chịu cúi đầu. Tên gián điệp vừa bị tóm cổ mang theo một bức thư tuyệt mật. Bức thư báo cho Buckingham hay thành phố đang rơi vào cảnh khốn cùng tột độ. Tuy nhiên, thay vì thốt lên những lời mềm yếu như: "Nếu viện binh của ngài không đến trong mười lăm ngày tới, chúng tôi đành phải đầu hàng," bức thư lại khép lại bằng một câu đanh thép và bi tráng: "Nếu viện binh của ngài không đến trong vòng mười lăm ngày nữa, thì khi binh lính cập bờ, tất cả chúng tôi đều đã thành những cái xác chết đói."
Vì thế, người La Rochelle chẳng còn bấu víu vào đâu ngoài Buckingham. Với họ, vị công tước chính là Đấng Cứu Thế. Quá rõ ràng, nếu một ngày họ nhận ra mình không còn có thể trông mong gì ở Buckingham, thì chút can trường cuối cùng sẽ cùng niềm hy vọng vỡ vụn thành trăm mảnh.
Đó là lý do Giáo chủ cứ đứng ngồi không yên, mỏi mắt chờ đợi một tin báo từ nước Anh khẳng định rằng Buckingham sẽ không bao giờ xuất hiện.
Kế hoạch dùng vũ lực đánh chiếm thành phố, dù liên tục được đưa ra mổ xẻ trong hội đồng ngự tiền, lại luôn bị gạt phắt đi. Trước hết, thành La Rochelle quả thực kiên cố đến mức khó lòng công phá. Thêm vào đó, dẫu Giáo chủ có biện bạch ra sao, ngài vẫn thừa hiểu rằng cảnh thảm sát đẫm máu tàn khốc-khi người Pháp giương mũi giáo vào chính đồng bào mình-sẽ kéo lùi chính sách của ngài lại những sáu mươi năm. Bởi ở vào thời kỳ đó, Giáo chủ là kiểu người mà thời nay ta thường gọi là người mang tư tưởng cấp tiến. Rõ ràng, việc tàn phá La Rochelle và thảm sát ba, bốn ngàn tín đồ Huguenot2-những kẻ đã thề thà chết chứ không đầu hàng-chẳng khác nào tái hiện lại đêm tắm máu St. Bartholomew3 tồi tệ năm 1572. Hơn thế nữa, biện pháp cực đoan này, dẫu chẳng làm phật lòng một nhà vua mộ đạo Công giáo như Louis XIII, vẫn luôn vấp phải lý lẽ thép từ các tướng lĩnh bao vây: cách duy nhất để khuất phục La Rochelle là biến nơi đây thành một hòn đảo chết đói.
Tuy nhiên, vị Giáo chủ chẳng tài nào gạt khỏi tâm trí nỗi ám ảnh về nữ phái viên khủng khiếp của mình. Ngài quá tường tận bản tính kỳ dị của ả đàn bà ấy, kẻ lúc thì thâm hiểm như loài rắn độc, khi lại tàn độc như một con sư tử cái khát máu. Phải chăng ả đã trở cờ phản bội ngài? Hay ả đã bỏ mạng nơi xứ người? Dù cớ sự ra sao, ngài vẫn tin chắc một điều: dù cống hiến cho ngài hay chống lại ngài, dù sắm vai bằng hữu hay hóa thành cừu nhân, ả quyết chẳng chịu khoanh tay ngồi yên nếu không vấp phải những chướng ngại vượt quá sức người. Nhưng rốt cuộc, thế lực nào đã ngáng đường ả? Đó là một ẩn số mà ngài đành bó tay.
Dẫu vậy, ngài vẫn đặt trọn niềm tin, và quả thực ngài có cơ sở để tin tưởng Milady. Xuyên qua bức màn quá khứ của ả, ngài đã mường tượng ra những bí mật kinh hoàng mà có lẽ chỉ tấm áo choàng đỏ của bậc quyền uy như ngài mới đủ sức che chở. Và vì một lý do nào đó, ngài đinh ninh rằng ả đàn bà này thuộc về ngài mãi mãi, bởi ngoài ngài ra, ả làm gì còn chốn dung thân nào khác để trốn tránh những lưỡi hái tử thần đang rình rập xung quanh.
Chính vì vậy, ngài quyết định sẽ tự tay lèo lái cuộc chiến, chẳng thèm trông cậy vào ai khác ngoài năng lực của chính bản thân, chỉ trừ chút phép màu từ vận may. Ngài tiếp tục hối thúc việc bồi đắp con đê nổi tiếng nhằm siết chặt vòng vây, tuyệt đường sống của La Rochelle. Đưa ánh mắt đăm chiêu về phía thành phố bất hạnh kia-nơi ngập chìm trong bi kịch tang thương nhưng cũng sáng ngời khí tiết anh hùng-ngài lại nhớ đến châm ngôn của vua Louis XI, bậc tiền bối trên chốn quan trường của ngài (cũng như ngài chính là người dọn đường cho Robespierre4 sau này). Ngài lẩm nhẩm lại câu cửa miệng của Tristan, tâm phúc của vị vua nọ: "Chia để trị."
Thuở trước, khi vây hãm Paris, vua Henri IV đã hạ lệnh ném những ổ bánh mì và lương thực qua tường thành. Trái lại, Giáo chủ chỉ cho ném vào đó những mẩu giấy mỏng manh. Qua những thông điệp ấy, ngài khéo léo vạch trần sự ích kỷ, bất công và tàn nhẫn của những kẻ cầm đầu quân phản loạn. Bọn chúng trữ đầy lúa mì nhưng quyết không chia sớt cho dân đen. Chúng vịn vào cái cớ cay nghiệt rằng: phụ nữ, người già và trẻ nhỏ có chết đi cũng chẳng nề hà, miễn sao đàn ông trai tráng giữ thành vẫn no đủ để chiến đấu. Cho đến lúc đó, dù vì lòng trung thành mù quáng hay bởi thế cô sức yếu, phương châm tàn bạo này dẫu chẳng mấy ai thuận tình vẫn nghiễm nhiên được áp dụng trong thực tế. Nhưng rồi, chính những mẩu giấy kia đã đánh sập tất cả. Từng dòng chữ nhắc nhở những gã đàn ông trên thành trì rằng: những thân xác đang rũ rượi chết đói kia chính là vợ con, là cha mẹ ruột thịt của họ. Lẽ ra, sự khốn cùng phải được san sẻ công bằng, để từ sự bình đẳng trong đau khổ, người ta mới có thể đi đến một quyết định đồng lòng.
Những thông điệp này lập tức phát huy hiệu quả mạnh mẽ đúng như kỳ vọng của kẻ chắp bút. Hàng loạt cư dân đã bị lay động, âm thầm rục rịch tìm cách đàm phán riêng với quân đội hoàng gia.
Nhưng oái oăm thay, đúng vào lúc Giáo chủ đang đắc ý mỉm cười vì mưu thâm kế hiểm bắt đầu đơm hoa kết trái, thì một người dân La Rochelle bằng phép màu nào đó đã lọt qua lớp phòng tuyến dày đặc của quân hoàng gia. Có Chúa mới biết anh ta xoay xở thế nào dưới mũi gươm canh gác của đám tay chân do Bassompierre, Schomberg và Công tước d’Angoulême chỉ huy-mà bản thân những vị này cũng đang nằm trong tầm ngắm giám sát gắt gao của Giáo chủ. Chúng tôi xin nhấn mạnh, một người dân La Rochelle vừa từ Portsmouth trở về đã lẻn vào thành phố, mang theo tin mừng rúng động: anh ta tận mắt chứng kiến một hạm đội hùng hậu chuẩn bị nhổ neo trong vòng tám ngày tới. Khủng khiếp hơn, Buckingham còn gửi thông điệp mật báo cho thị trưởng rằng một liên minh vĩ đại đã thành hình và chuẩn bị tuyên chiến với nước Pháp. Vương quốc sẽ sớm chìm trong biển lửa dưới gót giày xâm lược của liên quân Anh, Đế quốc5 và Tây Ban Nha. Bức thư này nhanh chóng được truyền tai và đọc công khai khắp các ngõ ngách. Hàng loạt bản sao được dán chằng chịt tại các góc phố. Ngay tắp lự, những kẻ từng dao động định xin hàng cũng khựng lại, dốc lòng cắn răng chờ đợi đội quân cứu viện vừa được tuyên cáo rùm beng.
Biến cố bất ngờ này đã quét sạch niềm kiêu hãnh của Richelieu, ném ngài trở lại hố sâu của sự lo âu. Dẫu chẳng cam tâm, một lần nữa, ngài lại phải đăm đăm hướng cặp mắt đầy cảnh giác sang bên kia bờ đại dương.
Trong khi vị thống soái duy nhất và đích thực phải oằn mình gánh chịu muôn vàn mối bận tâm, thì ngược lại, quân đội hoàng gia vẫn sống những ngày tháng tiêu dao, chẳng lo thiếu thốn một đồng xu cắc bạc hay một mẩu lương thực trong doanh trại. Khắp các quân đoàn đều thi nhau phô diễn sự táo bạo và tinh thần sảng khoái. Săn lùng gián điệp rồi tống chúng lên giá treo cổ, tổ chức những cuộc đột kích mạo hiểm trên mặt đê hay giữa biển khơi, hay bày ra vô số trò tiêu khiển điên rồ và lạnh lùng thực thi đến cùng-đó là những cách giải khuây giúp quân lính thấy ngày tháng trôi qua tựa bóng câu qua cửa sổ. Thế nhưng, với những cư dân La Rochelle khốn khổ đang làm mồi cho cái đói và sự tuyệt vọng, hay thậm chí đối với Giáo chủ-kẻ đang siết chặt thòng lọng phong tỏa họ-thì mỗi ngày dài đằng đẵng trôi qua chẳng khác nào sự tra tấn tàn nhẫn.
Đôi khi, ngài Giáo chủ oai phong trên lưng ngựa, chẳng nề hà mà hòa mình vào đám hiến binh thấp bé nhất quân đội. Ngài phóng tầm mắt đăm chiêu về những công trình phòng ngự đang được dựng lên một cách chậm chạp-dù đã huy động toàn bộ kỹ sư kỳ cựu từ khắp miền nước Pháp dưới quyền chỉ huy của ngài. Mỗi khi tình cờ chạm trán một Ngự lâm quân thuộc đại đội của Tréville, ngài liền tiến lại gần, chằm chằm dò xét anh ta bằng ánh mắt đầy ẩn ý. Và rồi, khi nhận ra kẻ đó chẳng phải là một trong bốn người bạn quen thuộc của chúng ta, ngài lại lẳng lặng quay đi, ném cái nhìn sắc như dao và những toan tính sâu xa về một ngả khác.
Một ngày nọ, trĩu nặng trong nỗi u sầu tột độ, tuyệt vọng trước những cuộc đàm phán với thành phố và cũng bặt vô âm tín từ nước Anh, Giáo chủ bèn ra ngoài. Chẳng có mục đích gì khác, ngài chỉ đơn thuần muốn dời bước khỏi chốn lưu trú. Với sự tháp tùng của hai tâm phúc là Cahusac và La Houdinière, ngài chậm rãi buông bước dọc bờ biển. Để những mộng tưởng mênh mang hòa vào biển cả bao la, ngài thả lỏng dây cương cho ngựa bước từng bước thong dong lên một ngọn đồi. Từ đỉnh đồi, ngài chợt trông thấy thấp thoáng sau hàng rào là bảy người đàn ông. Họ đang ngả lưng trên triền cát, thảnh thơi tận hưởng những vạt nắng hiếm hoi của mùa này, nằm ngổn ngang giữa những vỏ chai rượu rỗng. Bốn người trong số đó chính là các ngự lâm quân của chúng ta. Họ đang tề tựu để nghe đọc một bức thư mà một người vừa nhận được. Có lẽ bức thư ấy vô cùng hệ trọng, bởi nó đã khiến họ gạt phắt cả những lá bài cùng mấy con xúc xắc đang chơi dở trên mặt trống.
Ba người còn lại thì đang hì hục cạy nắp một bình rượu Collicure to tướng; đó chính là những hầu phòng trung thành của các quý ngài.
Như đã nói, Giáo chủ đang mang tâm trạng vô cùng tồi tệ. Vốn dĩ, những lúc như thế, chẳng gì khoét sâu thêm sự phiền muộn của ngài bằng việc chứng kiến kẻ khác vui vẻ. Hơn thế, ngài còn vướng vào một nỗi hoài nghi đầy kỳ quặc: ngài đinh ninh rằng nguồn cơn gây ra nỗi sầu muộn của mình lại chính là cội rễ làm nên niềm hoan hỉ của thiên hạ. Ra hiệu cho La Houdinière và Cahusac dừng bước, ngài xuống ngựa, lặng lẽ tiến về phía đám người mang vẻ vui nhộn đầy khả nghi kia. Ngài hy vọng lớp cát mềm sẽ nuốt trọn tiếng bước chân, còn hàng rào sẽ là tấm bình phong che khuất sự hiện diện của mình, để ngài có thể bắt lấy đôi ba lời trong cuộc mạn đàm có vẻ hấp dẫn ấy. Khi chỉ còn cách hàng rào chừng mười bước chân, ngài nhận ra ngay chàng lính trẻ xứ Gascon liến thoắng. Và vì đã biết đám người này là ngự lâm quân, ngài chẳng chút mảy may nghi ngờ rằng ba người còn lại chính là bộ ba "Không thể tách rời" lừng danh: Athos, Porthos và Aramis.
Chẳng khó để đoán rằng khao khát được nghe lỏm cuộc trò chuyện trong ngài lại càng bùng lên mãnh liệt trước phát hiện ấy. Ánh mắt ngài ánh lên một nét kỳ lạ. Với những bước chân nhẹ bẫng tựa một con mèo rừng, ngài rón rén nấp vào hàng rào. Thế nhưng, ngài chưa kịp chắp vá được gì ngoài vài âm tiết mờ nhạt và vô nghĩa, thì một tiếng hô vang dội, dứt khoát bỗng xé toạc không gian khiến ngài giật bắn mình, đồng thời thu hút trọn vẹn sự chú ý của nhóm ngự lâm quân.
"Sĩ quan!" Grimaud buột miệng hét lên.
"Ngươi lại mở miệng đấy à, đồ vô dụng!" Athos cất giọng, chống tay nhổm dậy, quắc mắt nhìn Grimaud rực lửa.
Thấy vậy, Grimaud đành nuốt ngược những lời định nói vào trong, chỉ biết đưa ngón trỏ vội vàng trỏ về phía hàng rào. Cử chỉ ấy đủ để báo động cho cả nhóm về sự xuất hiện của Giáo chủ cùng toán tùy tùng.
Thoắt một cái, các Ngự lâm quân đã đồng loạt đứng bật dậy, kính cẩn nghiêng mình chào.
Sắc mặt Giáo chủ lộ rõ vẻ tức giận tột độ.
"Có vẻ như các quý ngài Ngự lâm quân đang lập chốt gác nhỉ," ngài lên tiếng. "Chẳng hay quân Anh sắp đổ bộ từ đất liền, hay các Ngự lâm quân tự coi mình là những tướng lĩnh chỉ huy?"
"Thưa ngài," Athos điềm nhiên đáp lại. Giữa bầu không khí căng thẳng bao trùm, duy nhất mình anh vẫn giữ được phong thái cao ngạo và sự lạnh lùng cố hữu. "Thưa ngài, các Ngự lâm quân, khi không trong ca trực, hoặc khi nhiệm vụ đã hoàn tất, thì lấy rượu và xúc xắc làm vui. Và đối với những kẻ hầu người hạ của mình, đương nhiên họ là những tướng lĩnh chỉ huy."
"Người hầu ư?" Giáo chủ hầm hừ lầm bầm. "Đám người hầu mà lại được lệnh phải mật báo cho chủ khi có bóng người ngang qua thì đâu còn là người hầu nữa, họ là lính gác rồi."
"Ngài cũng thấy đấy, nếu chúng tôi không cẩn trọng như vậy, thì đã để ngài đi ngang qua mà chưa kịp cúi chào, hay chưa kịp nói lời tạ ơn vì đặc ân ngài đã ban để chúng tôi được sum họp. D’Artagnan này," Athos điềm đạm quay sang, "cậu chẳng vừa nói rất nóng lòng mong có dịp để tỏ lòng biết ơn ngài đó sao? Cơ hội đến rồi đây, hãy chớp lấy đi."
Những lời ấy được thốt ra bằng một sự bình thản đến khó tin, điều luôn khiến Athos trở nên nổi bật giữa lằn ranh sinh tử. Cộng thêm sự cung kính có phần thái quá, vào những khoảnh khắc như thế, trông anh còn toát lên vẻ uy nghi lấn át cả những bậc quân vương cha truyền con nối.
D’Artagnan tiến lên nửa bước, ấp úng thốt ra vài lời hàm ơn, nhưng chút âm thanh ấy nhanh chóng chìm lỉm dưới ánh nhìn lạnh lẽo, u ám của Giáo chủ.
"Trò này chẳng có ý nghĩa gì đâu, thưa các quý ngài," Giáo chủ tiếp lời, dường như sự đánh trống lảng của Athos chẳng mảy may làm suy xuyển ý định ban đầu của ngài. "Chẳng có ý nghĩa gì sất. Ta cực kỳ chướng mắt những kẻ mang danh quân nhân, chỉ cậy thế được phục vụ trong một binh đoàn đặc quyền đặc lợi, rồi giở thói ngang tàng làm như mình là những bậc lãnh chúa quyền uy. Kỷ luật quân đội đối với họ cũng nghiêm ngặt như với mọi binh lính khác mà thôi."
Athos kiên nhẫn đợi Giáo chủ tuôn hết những lời cay nghiệt, rồi mới khẽ cúi đầu tỏ ý tán đồng. Đoạn, anh chậm rãi tiếp lời: "Kỷ luật, thưa ngài, tôi dám chắc rằng chúng tôi chưa bao giờ quên mất. Hiện tại chúng tôi không trong ca trực, và chúng tôi thiết nghĩ khi đã xong nhiệm vụ, bản thân có toàn quyền tự do sử dụng thời gian của mình. Giả như chúng tôi có vinh hạnh được ngài giao phó một trọng trách nào đó, chúng tôi luôn sẵn sàng tuân lệnh. Ngài có thể thấy," Athos vừa nói vừa khẽ chau mày, bởi thái độ tra xét này bắt đầu khiến anh phật ý, "rằng chúng tôi ra ngoài dạo bước chẳng bao giờ quên mang theo vũ khí."
Và anh đưa tay chỉ về phía bốn khẩu súng hỏa mai đang dựng chụm vào nhau cạnh chiếc trống, ngay trên mặt trống là những lá bài và vài con xúc xắc lăn lóc.
"Ngài có thể tin," D’Artagnan chen vào, "rằng chúng tôi đã đon đả ra tận nơi nghênh đón, nếu chúng tôi dám mường tượng ngài lại tuần du về hướng này với lơ thơ vài cận vệ như vậy."
Giáo chủ cắn chặt bộ ria mép, hàm răng thậm chí còn nghiến nhẹ vào môi.
"Các người có biết cái bộ dạng của các người lúc này trông như thế nào không? Tụ tập một chỗ, trang bị tận răng, lại còn cắt cử người hầu cảnh giới?" Giáo chủ gằn giọng. "Trông các người chẳng khác nào bốn kẻ đang rắp tâm mưu phản."
"Ồ, nếu ngài nói về chuyện đó, thưa ngài, thì quả đúng là vậy," Athos thản nhiên đáp trả; "chúng tôi thực sự đang bày mưu tính kế, như ngài hẳn đã tường tận từ buổi sáng hôm nọ. Có điều, chúng tôi âm mưu chống lại bè lũ Rochellais."
"À, ra thế, các quý ngài làm chính trị cơ đấy!" Giáo chủ bật lại, đến lượt ngài nhíu chặt đôi mày. "Bí mật của bao điều khuất tất có lẽ đang ẩn giấu trong bộ não của các người, giá như ta có thể đọc thấu chúng, giống như cái cách các người đang xúm vào đọc lá thư vừa vội vàng giấu nhẹm đi khi thấy bóng ta."
Máu nóng bừng bừng dồn lên mặt Athos, anh sấn tới một bước về phía Giáo chủ.
"Thiên hạ hẳn sẽ nghĩ ngài đang thực sự sinh lòng nghi bỉ chúng tôi, thưa ngài, và rằng chúng tôi đang phải gánh chịu một cuộc tra khảo đúng nghĩa. Nếu quả thực là vậy, chúng tôi mong ngài hãy rủ lòng nói cho rõ ngọn ngành, để ít nhất chúng tôi còn biết thân biết phận mình đang đứng ở đâu."
"Thế nếu đây là một cuộc tra khảo thì đã sao nào!" Giáo chủ gay gắt vặn lại. "Đầy kẻ khác ngoài các người đã từng nếm mùi những cuộc hỏi cung như thế rồi đấy, anh Athos ạ, và họ đều đã phải ngoan ngoãn khai báo."
"Chính vì thế tôi mới thưa với ngài rằng, ngài chỉ việc cất lời hỏi, và chúng tôi đã sẵn sàng hồi đáp."
"Thế lá thư mà anh định đọc là gì vậy, anh Aramis, cớ sao anh phải vội vàng giấu giếm như thế?"
"Thưa ngài, chỉ là thư từ của một bóng hồng."
"À, vâng, ta hiểu, ta hiểu chứ," Giáo chủ mỉa mai; "chuyện thư từ yêu đương thì phải giữ kẽ rồi. Nhưng biết đâu đấy, chúng ta vẫn có thể đưa cho một cha xưng tội xem qua, và anh cũng biết ta đã thụ phong linh mục rồi mà."
"Thưa ngài," Athos cất giọng, điềm tĩnh đến độ đáng sợ bởi anh đang đem chính mạng sống của mình ra đánh cược trong từng câu chữ, "bức thư đó đúng là của một người phụ nữ, nhưng nó không hề mang chữ ký của Marion de Lorme, và cũng chẳng phải của phu nhân d’Aiguillon đâu."
Mặt Giáo chủ chợt tái nhợt như xác chết; những tia nhìn tóe lửa phóng ra từ đôi mắt ngài. Ngài quay phắt lại, dường như định buông lệnh cho Cahusac và Houdinière. Athos tinh ý bắt được động thái ấy; anh lập tức lùi một bước về phía những khẩu súng hỏa mai. Ba người bạn cũng đồng loạt hướng mắt về đống vũ khí, mang cái dáng vẻ bất khuất của những kẻ thà chết chứ không chịu trói tay. Phía Giáo chủ chỉ có ba người; trong khi phía Ngự lâm quân, tính cả người hầu, là bảy. Ngài nhanh chóng nhẩm tính: cán cân lực lượng sẽ hoàn toàn nghiêng về phe kia nếu Athos và những người bạn của anh thực sự đang ấp ủ mưu đồ làm phản. Và bằng một sự nhạy bén vốn có, ngài dập tắt ngọn lửa thịnh nộ, nở một nụ cười hòa hoãn.
"Chà, chà!" ngài nói, "các người quả là những thanh niên can trường, kiêu hãnh giữa thanh thiên bạch nhật, trung thành trong bóng tối. Chúng ta đâu thể trách cứ khi các người biết lo thân, trong khi các người đã tận tâm canh gác cho những kẻ khác. Thưa các quý ngài, ta vẫn chưa quên cái đêm các người đã hộ tống ta đến quán Red Dovecot. Nếu có bất kỳ hiểm nguy nào rình rập trên đoạn đường sắp tới, ta nhất định sẽ yêu cầu các người tháp tùng. Nhưng vì mọi thứ vẫn êm đềm, hãy cứ ở yên đấy, uống cho cạn chén rượu, chơi cho trọn ván bài, và đọc nốt lá thư đi. Cáo từ các quý ngài!"
Nói rồi, ngài leo lên lưng con chiến mã do Cahusac vừa dắt tới, khẽ vẫy tay chào, rồi thúc ngựa khuất bóng.
Bốn chàng trai đứng chôn chân tại chỗ, lặng lẽ dõi mắt nhìn theo cho đến khi bóng ngài mất hút, chẳng ai thốt lên nửa lời. Rồi họ đưa mắt nhìn nhau.
Trên gương mặt mỗi người đều hằn lên vẻ kinh hãi tột độ. Bởi dẫu Giáo chủ có buông lời chào từ biệt thân tình đến mấy, họ vẫn thừa hiểu ngài đã rời đi với ngọn lửa căm hờn ngùn ngụt cháy trong tim.
Giữa lúc đó, chỉ một mình Athos mỉm cười. Đó là một nụ cười tự chủ và đầy vẻ khinh bỉ.
Đợi đến khi Giáo chủ đã đi khuất và không còn nghe thấy gì nữa, Porthos, đang bực dọc muốn trút giận lên ai đó, liền lớn tiếng kêu lên: "Tên Grimaud canh gác tồi quá đi mất!"
Grimaud toan há miệng thanh minh. Athos chỉ cần giơ một ngón tay lên, và anh hầu lập tức im bặt.
"Cậu định giao bức thư đó ra sao, Aramis?" D’Artagnan hỏi.
"Tôi ư?" Aramis đáp bằng một giọng the thé nhất, "Tôi đã quyết định rồi. Nếu ngài cứ khăng khăng đòi lấy bức thư, tôi sẽ dùng một tay dâng thư lên, còn tay kia đâm thanh gươm xuyên qua người ngài ấy."
"Tôi cũng đoán vậy," Athos điềm tĩnh tiếp lời. "Đó là lý do tại sao tôi lại lao vào giữa cậu và ngài. Quả thực, người đàn ông này rất đáng trách khi nói chuyện kiểu đó với những người đàn ông khác. Cứ làm như ngài chưa từng giao thiệp với ai ngoài phụ nữ và trẻ con vậy."
"Athos thân mến, tôi thực sự ngưỡng mộ anh, nhưng dù sao đi nữa, xét cho cùng thì chúng ta vẫn là những kẻ có lỗi."
"Sai thế nào cơ?" Athos hỏi lại. "Vậy bầu không khí chúng ta đang hít thở là của ai? Đại dương mà chúng ta đang ngắm nhìn là của ai? Bãi cát mà chúng ta đang ngả lưng là của ai? Bức thư của người tình cậu là của ai? Chẳng lẽ những thứ đó đều thuộc về ngài Giáo chủ sao? Thề có danh dự của tôi, người đàn ông này đang ảo tưởng rằng cả thế giới đều nằm trong tay ông ta. Còn các cậu, các cậu đứng đó, lắp ba lắp bắp, sững sờ và suy sụp. Cứ như thể nhà tù Bastille6 vừa hiện ra lù lù trước mắt, và con quái vật Medusa7 khổng lồ đã hóa đá các cậu vậy. Đang yêu thì có phải là đang âm mưu phản nghịch đâu? Cậu đem lòng yêu một người phụ nữ bị Giáo chủ giam lỏng, và cậu muốn giải cứu cô ấy khỏi tay ngài. Đó là một ván cờ cậu đang chơi với ông ta. Bức thư này chính là lá bài của cậu. Cớ sao cậu lại ngửa bài cho đối thủ xem chứ? Không ai làm cái chuyện ngớ ngẩn như vậy cả. Hãy cứ để ông ta tự đi mà tìm hiểu, nếu ông ta có thể! Vả lại, chúng ta cũng có thể dò ra quân bài của ông ta cơ mà!"
"Chà, những điều anh nói quả thật rất có lý, Athos à," D’Artagnan lên tiếng.
"Vậy thì, đừng bận tâm đến chuyện đã qua nữa. Hãy để Aramis đọc nốt bức thư của cô em họ, từ chỗ bị ngài Giáo chủ ngắt lời ban nãy."
Aramis lại rút lá thư từ trong túi ra. Ba người bạn xúm xít quanh anh, trong khi ba người hầu lại quây quần bên vò rượu.
"Cậu mới đọc được có một hai dòng thôi," D’Artagnan giục; "Hãy đọc lại bức thư từ đầu đi."
"Sẵn lòng thôi," Aramis đáp.
"CHỊ HỌ THÂN MẾN CỦA EM, em nghĩ em sẽ quyết định lên đường đến Béthune, nơi em gái em đã thu xếp cho cô hầu gái nhỏ của chúng ta nương náu tại tu viện Carmelites8. Đứa trẻ tội nghiệp ấy hoàn toàn cam chịu số phận, bởi nó biết mình chẳng thể sống ở nơi nào khác mà không làm nguy hại đến sự cứu rỗi của linh hồn mình. Dù vậy, nếu mọi việc trong gia đình chúng ta được thu xếp êm xuôi như mong đợi, em tin rằng nó sẽ sẵn lòng chấp nhận rủi ro đày đọa để trở về bên những người nó hằng thương nhớ, nhất là khi nó biết họ luôn dõi theo nó. Trong lúc này, cuộc sống của nó cũng không đến nỗi quá khốn khổ. Điều nó khao khát nhất lúc này là một bức thư từ vị hôn phu. Em biết những 'món ăn tinh thần' như vậy rất khó lọt qua song sắt tu viện. Nhưng suy cho cùng, như em đã từng chứng minh cho chị thấy đó, chị họ thân mến, em đâu có thiếu kỹ năng trong những chuyện thế này, và em sẽ đích thân đảm nhận nhiệm vụ đó. Em gái em gửi lời cảm ơn chị vì đã luôn nhớ đến nó với những tình cảm tốt đẹp và bền chặt nhất. Nó đã phải trải qua biết bao âu lo, nhưng giờ đây tâm trí cũng đã phần nào thanh thản, sau khi đuổi cổ gã thư ký đi để tránh mọi chuyện bất trắc có thể xảy ra. "Tạm biệt chị họ thân mến. Hãy gửi tin tức cho chúng em thường xuyên nhất có thể. Tức là, hãy gửi thư trong mức độ an toàn cho phép. Ôm chị.
"MARIE MICHON"
"Ôi, tôi nợ cậu biết bao nhiêu ân tình đây, Aramis?" D’Artagnan thốt lên. "Constance thân yêu! Cuối cùng thì tôi cũng có tin tức của nàng. Nàng vẫn còn sống, nàng đang an toàn trong một tu viện. Nàng đang ở Béthune! Mà Béthune nằm ở đâu vậy, Athos?"
"Chà, nằm trên biên giới giữa Artois và Flanders. Đợi khi cuộc vây hãm này kết thúc, chúng ta có thể làm một chuyến đi về hướng đó."
"Và hy vọng là ngày đó sẽ không còn xa nữa," Porthos chen vào. "Sáng nay họ vừa treo cổ một tên gián điệp. Hắn đã thú nhận rằng người dân Rochellais đã bị dồn đến bước đường cùng, phải ăn cả phần da giày của mình để cầm hơi. Cứ cho là sau khi ăn hết phần da, họ sẽ gặm luôn đến đế giày đi, thì tôi cũng chẳng thấy còn gì sót lại cho họ xơi, trừ phi họ quay sang ăn thịt lẫn nhau."
"Lũ ngốc đáng thương!" Athos thở dài, rồi nhấp cạn một ly vang Bordeaux hảo hạng. Dù thứ rượu này vào thời điểm đó chưa nổi danh như bây giờ, nhưng hương vị của nó quả thực rất xứng đáng với những lời tán dương. "Đúng là một lũ ngốc đáng thương! Cứ làm như thể đạo Công giáo không phải là tôn giáo mang lại nhiều lợi ích và thoải mái nhất trong số các tôn giáo vậy! Dẫu sao đi nữa," anh chép miệng rồi nói tiếp, "họ cũng là những chiến binh dũng cảm! Nhưng cậu đang làm cái quái gì vậy, Aramis?" Athos chợt nhíu mày. "Sao cậu lại nhét bức thư đó vào túi thế kia!"
"Đúng vậy," D’Artagnan tán thành, "Athos nói phải đấy, cần phải đem đốt nó đi. Nhưng nhỡ chúng ta đốt rồi, ai dám chắc ngài Giáo chủ không có một pháp thuật bí mật nào đó để tra hỏi cả đống tro tàn cơ chứ?"
"Chắc chắn là ông ta có đấy," Athos gật gù.
"Vậy các anh định làm gì với bức thư đây?" Porthos thắc mắc.
"Lại đây, Grimaud," Athos gọi lớn. Grimaud vội vã đứng dậy và bước tới. "Như một hình phạt cho việc ngươi dám mở miệng khi chưa được cho phép, anh bạn của ta, ngươi làm ơn hãy nuốt mẩu giấy này. Sau đó, để tưởng thưởng cho sự phục vụ tận tụy của ngươi, ngươi sẽ được uống cạn ly rượu này. Trước tiên, bức thư đây. Chúc ăn ngon miệng nhé."
Grimaud khẽ mỉm cười. Với đôi mắt dán chặt vào ly rượu vang mà Athos đang cầm trên tay, anh ta nhai nghiến ngấu tờ giấy giữa hai hàm răng rồi nuốt chửng vào bụng.
"Tuyệt lắm, anh bạn Grimaud!" Athos khen ngợi; "Và bây giờ hãy nhận lấy phần thưởng của ngươi đi. Tốt lắm. Chúng ta miễn cho ngươi cái màn nói lời tạ ơn đấy."
Grimaud lẳng lặng uống cạn ly vang Bordeaux. Tuy nhiên, đôi mắt anh ta cứ ngước lên trời tận hưởng trong suốt quá trình thưởng thức món đồ uống ngon lành này. Ánh mắt ấy đã nói lên một thứ ngôn ngữ, dẫu câm lặng, nhưng lại vô cùng biểu cảm.
"Và bây giờ," Athos lên tiếng, "Trừ phi ngài Giáo chủ bất chợt nảy ra một ý tưởng thiên tài là đem mổ bụng Grimaud, nếu không thì tôi nghĩ chúng ta đã có thể hoàn toàn yên tâm về số phận của bức thư rồi."
Trong khi đó, ngài Giáo chủ vẫn lầm lũi tiếp tục chuyến cưỡi ngựa đầy u sầu của mình. Ngài lẩm bẩm qua bộ ria mép: "Bốn người đàn ông này, nhất định phải là người của ta."
-
Tước hiệu (Monsieur) thường được dùng trong triều đình Pháp để gọi người em trai cao cấp nhất của nhà vua đang tại vị, ở đây chỉ Gaston của Pháp, em trai vua Louis XIII. ↩
-
Tên gọi những người Pháp theo đạo Tin Lành (phái Calvin) vào thế kỷ 16 và 17, những người thường xuyên bị đàn áp bởi chính quyền Công giáo. ↩
-
Vụ thảm sát khét tiếng xảy ra vào ngày lễ Thánh Bartholomew năm 1572 tại Paris, khi hàng ngàn tín đồ đạo Tin Lành bị sát hại hàng loạt. ↩
-
Maximilien Robespierre (1758-1794), một nhân vật chủ chốt và khét tiếng tàn bạo của Cách mạng Pháp. Tác giả (sống ở thế kỷ 19) đang so sánh quyền lực sắt đá của Giáo chủ (thế kỷ 17) như bước dọn đường cho thời kỳ Cách mạng Pháp. ↩
-
Ám chỉ Đế quốc La Mã Thần thánh (Holy Roman Empire), một liên minh các lãnh thổ bao trùm phần lớn khu vực Trung Âu thời bấy giờ. ↩
-
Pháo đài và nhà tù nổi tiếng tại Paris, biểu tượng quyền lực tuyệt đối của hoàng gia Pháp, nơi thường giam giữ những người chống đối triều đình. ↩
-
Một nữ quái vật trong thần thoại Hy Lạp có mái tóc là những con rắn độc; truyền thuyết kể rằng bất kỳ ai nhìn vào mắt quái vật này đều sẽ lập tức bị biến thành đá. ↩
-
Dòng tu Công giáo khép kín dành cho nữ giới (Dòng Cáp-minh), nơi các nữ tu sống tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài để cầu nguyện và tu tập. ↩
Chapter LI. OFFICER
Meanwhile, the cardinal looked anxiously for news from England; but no news arrived that was not annoying and threatening.
Although La Rochelle was invested, however certain success might appear-thanks to the precautions taken, and above all to the dyke, which prevented the entrance of any vessel into the besieged city-the blockade might last a long time yet. This was a great affront to the king’s army, and a great inconvenience to the cardinal, who had no longer, it is true, to embroil Louis XIII. with Anne of Austria-for that affair was over-but he had to adjust matters for M. de Bassompierre, who was embroiled with the Duc d’Angoulême.
As to Monsieur, who had begun the siege, he left to the cardinal the task of finishing it.
The city, notwithstanding the incredible perseverance of its mayor, had attempted a sort of mutiny for a surrender; the mayor had hanged the mutineers. This execution quieted the ill-disposed, who resolved to allow themselves to die of hunger-this death always appearing to them more slow and less sure than strangulation.
On their side, from time to time, the besiegers took the messengers which the Rochellais sent to Buckingham, or the spies which Buckingham sent to the Rochellais. In one case or the other, the trial was soon over. The cardinal pronounced the single word, “Hanged!” The king was invited to come and see the hanging. He came languidly, placing himself in a good situation to see all the details. This amused him sometimes a little, and made him endure the siege with patience; but it did not prevent his getting very tired, or from talking at every moment of returning to Paris-so that if the messengers and the spies had failed, his Eminence, notwithstanding all his inventiveness, would have found himself much embarrassed.
Nevertheless, time passed on, and the Rochellais did not surrender. The last spy that was taken was the bearer of a letter. This letter told Buckingham that the city was at an extremity; but instead of adding, “If your succor does not arrive within fifteen days, we will surrender,” it added, quite simply, “If your succor comes not within fifteen days, we shall all be dead with hunger when it comes.”
The Rochellais, then, had no hope but in Buckingham. Buckingham was their Messiah. It was evident that if they one day learned positively that they must not count on Buckingham, their courage would fail with their hope.
The cardinal looked, then, with great impatience for the news from England which would announce to him that Buckingham would not come.
The question of carrying the city by assault, though often debated in the council of the king, had been always rejected. In the first place, La Rochelle appeared impregnable. Then the cardinal, whatever he said, very well knew that the horror of bloodshed in this encounter, in which Frenchman would combat against Frenchman, was a retrograde movement of sixty years impressed upon his policy; and the cardinal was at that period what we now call a man of progress. In fact, the sack of La Rochelle, and the assassination of three of four thousand Huguenots who allowed themselves to be killed, would resemble too closely, in 1628, the massacre of St. Bartholomew in 1572; and then, above all this, this extreme measure, which was not at all repugnant to the king, good Catholic as he was, always fell before this argument of the besieging generals-La Rochelle is impregnable except to famine.
The cardinal could not drive from his mind the fear he entertained of his terrible emissary-for he comprehended the strange qualities of this woman, sometimes a serpent, sometimes a lion. Had she betrayed him? Was she dead? He knew her well enough in all cases to know that, whether acting for or against him, as a friend or an enemy, she would not remain motionless without great impediments; but whence did these impediments arise? That was what he could not know.
And yet he reckoned, and with reason, on Milady. He had divined in the past of this woman terrible things which his red mantle alone could cover; and he felt, from one cause or another, that this woman was his own, as she could look to no other but himself for a support superior to the danger which threatened her.
He resolved, then, to carry on the war alone, and to look for no success foreign to himself, but as we look for a fortunate chance. He continued to press the raising of the famous dyke which was to starve La Rochelle. Meanwhile, he cast his eyes over that unfortunate city, which contained so much deep misery and so many heroic virtues, and recalling the saying of Louis XI., his political predecessor, as he himself was the predecessor of Robespierre, he repeated this maxim of Tristan’s gossip: “Divide in order to reign.”
Henry IV., when besieging Paris, had loaves and provisions thrown over the walls. The cardinal had little notes thrown over in which he represented to the Rochellais how unjust, selfish, and barbarous was the conduct of their leaders. These leaders had corn in abundance, and would not let them partake of it; they adopted as a maxim-for they, too, had maxims-that it was of very little consequence that women, children, and old men should die, so long as the men who were to defend the walls remained strong and healthy. Up to that time, whether from devotedness or from want of power to act against it, this maxim, without being generally adopted, nevertheless passed from theory into practice; but the notes did it injury. The notes reminded the men that the children, women, and old men whom they allowed to die were their sons, their wives, and their fathers, and that it would be more just for everyone to be reduced to the common misery, in order that equal conditions should give birth to unanimous resolutions.
These notes had all the effect that he who wrote them could expect, in that they induced a great number of the inhabitants to open private negotiations with the royal army.
But at the moment when the cardinal saw his means already bearing fruit, and applauded himself for having put it in action, an inhabitant of La Rochelle who had contrived to pass the royal lines-God knows how, such was the watchfulness of Bassompierre, Schomberg, and the Duc d’Angoulême, themselves watched over by the cardinal-an inhabitant of La Rochelle, we say, entered the city, coming from Portsmouth, and saying that he had seen a magnificent fleet ready to sail within eight days. Still further, Buckingham announced to the mayor that at length the great league was about to declare itself against France, and that the kingdom would be at once invaded by the English, Imperial, and Spanish armies. This letter was read publicly in all parts of the city. Copies were put up at the corners of the streets; and even they who had begun to open negotiations interrupted them, being resolved to await the succor so pompously announced.
This unexpected circumstance brought back Richelieu’s former anxiety, and forced him in spite of himself once more to turn his eyes to the other side of the sea.
During this time, exempt from the anxiety of its only and true chief, the royal army led a joyous life, neither provisions nor money being wanting in the camp. All the corps rivaled one another in audacity and gaiety. To take spies and hang them, to make hazardous expeditions upon the dyke or the sea, to imagine wild plans, and to execute them coolly-such were the pastimes which made the army find these days short which were not only so long to the Rochellais, a prey to famine and anxiety, but even to the cardinal, who blockaded them so closely.
Sometimes when the cardinal, always on horseback, like the lowest gendarme of the army, cast a pensive glance over those works, so slowly keeping pace with his wishes, which the engineers, brought from all the corners of France, were executing under his orders, if he met a Musketeer of the company of Tréville, he drew near and looked at him in a peculiar manner, and not recognizing in him one of our four companions, he turned his penetrating look and profound thoughts in another direction.
One day when oppressed with a mortal weariness of mind, without hope in the negotiations with the city, without news from England, the cardinal went out, without any other aim than to be out of doors, and accompanied only by Cahusac and La Houdinière, strolled along the beach. Mingling the immensity of his dreams with the immensity of the ocean, he came, his horse going at a foot’s pace, to a hill from the top of which he perceived behind a hedge, reclining on the sand and catching in its passage one of those rays of the sun so rare at this period of the year, seven men surrounded by empty bottles. Four of these men were our Musketeers, preparing to listen to a letter one of them had just received. This letter was so important that it made them forsake their cards and their dice on the drumhead.
The other three were occupied in opening an enormous flagon of Collicure wine; these were the lackeys of these gentlemen.
The cardinal was, as we have said, in very low spirits; and nothing when he was in that state of mind increased his depression so much as gaiety in others. Besides, he had another strange fancy, which was always to believe that the causes of his sadness created the gaiety of others. Making a sign to La Houdinière and Cahusac to stop, he alighted from his horse, and went toward these suspected merry companions, hoping, by means of the sand which deadened the sound of his steps and of the hedge which concealed his approach, to catch some words of this conversation which appeared so interesting. At ten paces from the hedge he recognized the talkative Gascon; and as he had already perceived that these men were Musketeers, he did not doubt that the three others were those called the Inseparables; that is to say, Athos, Porthos, and Aramis.
It may be supposed that his desire to hear the conversation was augmented by this discovery. His eyes took a strange expression, and with the step of a tiger-cat he advanced toward the hedge; but he had not been able to catch more than a few vague syllables without any positive sense, when a sonorous and short cry made him start, and attracted the attention of the Musketeers.
“Officer!” cried Grimaud.
“You are speaking, you scoundrel!” said Athos, rising upon his elbow, and transfixing Grimaud with his flaming look.
Grimaud therefore added nothing to his speech, but contented himself with pointing his index finger in the direction of the hedge, announcing by this gesture the cardinal and his escort.
With a single bound the Musketeers were on their feet, and saluted with respect.
The cardinal seemed furious.
“It appears that Messieurs the Musketeers keep guard,” said he. “Are the English expected by land, or do the Musketeers consider themselves superior officers?”
“Monseigneur,” replied Athos, for amid the general fright he alone had preserved the noble calmness and coolness that never forsook him, “Monseigneur, the Musketeers, when they are not on duty, or when their duty is over, drink and play at dice, and they are certainly superior officers to their lackeys.”
“Lackeys?” grumbled the cardinal. “Lackeys who have the order to warn their masters when anyone passes are not lackeys, they are sentinels.”
“Your Eminence may perceive that if we had not taken this precaution, we should have been exposed to allowing you to pass without presenting you our respects or offering you our thanks for the favor you have done us in uniting us. D’Artagnan,” continued Athos, “you, who but lately were so anxious for such an opportunity for expressing your gratitude to Monseigneur, here it is; avail yourself of it.”
These words were pronounced with that imperturbable phlegm which distinguished Athos in the hour of danger, and with that excessive politeness which made of him at certain moments a king more majestic than kings by birth.
D’Artagnan came forward and stammered out a few words of gratitude which soon expired under the gloomy looks of the cardinal.
“It does not signify, gentlemen,” continued the cardinal, without appearing to be in the least swerved from his first intention by the diversion which Athos had started, “it does not signify, gentlemen. I do not like to have simple soldiers, because they have the advantage of serving in a privileged corps, thus to play the great lords; discipline is the same for them as for everybody else.”
Athos allowed the cardinal to finish his sentence completely, and bowed in sign of assent. Then he resumed in his turn: “Discipline, Monseigneur, has, I hope, in no way been forgotten by us. We are not on duty, and we believed that not being on duty we were at liberty to dispose of our time as we pleased. If we are so fortunate as to have some particular duty to perform for your Eminence, we are ready to obey you. Your Eminence may perceive,” continued Athos, knitting his brow, for this sort of investigation began to annoy him, “that we have not come out without our arms.”
And he showed the cardinal, with his finger, the four muskets piled near the drum, on which were the cards and dice.
“Your Eminence may believe,” added D’Artagnan, “that we would have come to meet you, if we could have supposed it was Monseigneur coming toward us with so few attendants.”
The cardinal bit his mustache, and even his lips a little.
“Do you know what you look like, all together, as you are armed and guarded by your lackeys?” said the cardinal. “You look like four conspirators.”
“Oh, as to that, Monseigneur, it is true,” said Athos; “we do conspire, as your Eminence might have seen the other morning. Only we conspire against the Rochellais.”
“Ah, you gentlemen of policy!” replied the cardinal, knitting his brow in his turn, “the secret of many unknown things might perhaps be found in your brains, if we could read them as you read that letter which you concealed as soon as you saw me coming.”
The color mounted to the face of Athos, and he made a step toward his Eminence.
“One might think you really suspected us, monseigneur, and we were undergoing a real interrogatory. If it be so, we trust your Eminence will deign to explain yourself, and we should then at least be acquainted with our real position.”
“And if it were an interrogatory!” replied the cardinal. “Others besides you have undergone such, Monsieur Athos, and have replied thereto.”
“Thus I have told your Eminence that you had but to question us, and we are ready to reply.”
“What was that letter you were about to read, Monsieur Aramis, and which you so promptly concealed?”
“A woman’s letter, monseigneur.”
“Ah, yes, I see,” said the cardinal; “we must be discreet with this sort of letters; but nevertheless, we may show them to a confessor, and you know I have taken orders.”
“Monseigneur,” said Athos, with a calmness the more terrible because he risked his head in making this reply, “the letter is a woman’s letter, but it is neither signed Marion de Lorme, nor Madame d’Aiguillon.”
The cardinal became as pale as death; lightning darted from his eyes. He turned round as if to give an order to Cahusac and Houdinière. Athos saw the movement; he made a step toward the muskets, upon which the other three friends had fixed their eyes, like men ill-disposed to allow themselves to be taken. The cardinalists were three; the Musketeers, lackeys included, were seven. He judged that the match would be so much the less equal, if Athos and his companions were really plotting; and by one of those rapid turns which he always had at command, all his anger faded away into a smile.
“Well, well!” said he, “you are brave young men, proud in daylight, faithful in darkness. We can find no fault with you for watching over yourselves, when you watch so carefully over others. Gentlemen, I have not forgotten the night in which you served me as an escort to the Red Dovecot. If there were any danger to be apprehended on the road I am going, I would request you to accompany me; but as there is none, remain where you are, finish your bottles, your game, and your letter. Adieu, gentlemen!”
And remounting his horse, which Cahusac led to him, he saluted them with his hand, and rode away.
The four young men, standing and motionless, followed him with their eyes without speaking a single word until he had disappeared. Then they looked at one another.
The countenances of all gave evidence of terror, for notwithstanding the friendly adieu of his Eminence, they plainly perceived that the cardinal went away with rage in his heart.
Athos alone smiled, with a self-possessed, disdainful smile.
When the cardinal was out of hearing and sight, “That Grimaud kept bad watch!” cried Porthos, who had a great inclination to vent his ill-humor on somebody.
Grimaud was about to reply to excuse himself. Athos lifted his finger, and Grimaud was silent.
“Would you have given up the letter, Aramis?” said D’Artagnan.
“I,” said Aramis, in his most flutelike tone, “I had made up my mind. If he had insisted upon the letter being given up to him, I would have presented the letter to him with one hand, and with the other I would have run my sword through his body.”
“I expected as much,” said Athos; “and that was why I threw myself between you and him. Indeed, this man is very much to blame for talking thus to other men; one would say he had never had to do with any but women and children.”
“My dear Athos, I admire you, but nevertheless we were in the wrong, after all.”
“How, in the wrong?” said Athos. “Whose, then, is the air we breathe? Whose is the ocean upon which we look? Whose is the sand upon which we were reclining? Whose is that letter of your mistress? Do these belong to the cardinal? Upon my honor, this man fancies the world belongs to him. There you stood, stammering, stupefied, annihilated. One might have supposed the Bastille appeared before you, and that the gigantic Medusa had converted you into stone. Is being in love conspiring? You are in love with a woman whom the cardinal has caused to be shut up, and you wish to get her out of the hands of the cardinal. That’s a match you are playing with his Eminence; this letter is your game. Why should you expose your game to your adversary? That is never done. Let him find it out if he can! We can find out his!”
“Well, that’s all very sensible, Athos,” said D’Artagnan.
“In that case, let there be no more question of what’s past, and let Aramis resume the letter from his cousin where the cardinal interrupted him.”
Aramis drew the letter from his pocket; the three friends surrounded him, and the three lackeys grouped themselves again near the wine jar.
“You had only read a line or two,” said D’Artagnan; “read the letter again from the commencement.”
“Willingly,” said Aramis.
“MY DEAR COUSIN, I think I shall make up my mind to set out for Béthune, where my sister has placed our little servant in the convent of the Carmelites; this poor child is quite resigned, as she knows she cannot live elsewhere without the salvation of her soul being in danger. Nevertheless, if the affairs of our family are arranged, as we hope they will be, I believe she will run the risk of being damned, and will return to those she regrets, particularly as she knows they are always thinking of her. Meanwhile, she is not very wretched; what she most desires is a letter from her intended. I know that such viands pass with difficulty through convent gratings; but after all, as I have given you proofs, my dear cousin, I am not unskilled in such affairs, and I will take charge of the commission. My sister thanks you for your good and eternal remembrance. She has experienced much anxiety; but she is now at length a little reassured, having sent her secretary away in order that nothing may happen unexpectedly.
“Adieu, my dear cousin. Tell us news of yourself as often as you can; that is to say, as often as you can with safety. I embrace you.
“MARIE MICHON”
“Oh, what do I not owe you, Aramis?” said D’Artagnan. “Dear Constance! I have at length, then, intelligence of you. She lives; she is in safety in a convent; she is at Béthune! Where is Béthune, Athos?”
“Why, upon the frontiers of Artois and of Flanders. The siege once over, we shall be able to make a tour in that direction.”
“And that will not be long, it is to be hoped,” said Porthos; “for they have this morning hanged a spy who confessed that the Rochellais were reduced to the leather of their shoes. Supposing that after having eaten the leather they eat the soles, I cannot see much that is left unless they eat one another.”
“Poor fools!” said Athos, emptying a glass of excellent Bordeaux wine which, without having at that period the reputation it now enjoys, merited it no less, “poor fools! As if the Catholic religion was not the most advantageous and the most agreeable of all religions! All the same,” resumed he, after having clicked his tongue against his palate, “they are brave fellows! But what the devil are you about, Aramis?” continued Athos. “Why, you are squeezing that letter into your pocket!”
“Yes,” said D’Artagnan, “Athos is right, it must be burned. And yet if we burn it, who knows whether Monsieur Cardinal has not a secret to interrogate ashes?”
“He must have one,” said Athos.
“What will you do with the letter, then?” asked Porthos.
“Come here, Grimaud,” said Athos. Grimaud rose and obeyed. “As a punishment for having spoken without permission, my friend, you will please to eat this piece of paper; then to recompense you for the service you will have rendered us, you shall afterward drink this glass of wine. First, here is the letter. Eat heartily.”
Grimaud smiled; and with his eyes fixed upon the glass which Athos held in his hand, he ground the paper well between his teeth and then swallowed it.
“Bravo, Monsieur Grimaud!” said Athos; “and now take this. That’s well. We dispense with your saying grace.”
Grimaud silently swallowed the glass of Bordeaux wine; but his eyes, raised toward heaven during this delicious occupation, spoke a language which, though mute, was not the less expressive.
“And now,” said Athos, “unless Monsieur Cardinal should form the ingenious idea of ripping up Grimaud, I think we may be pretty much at our ease respecting the letter.”
Meantime, his Eminence continued his melancholy ride, murmuring between his mustaches, “These four men must positively be mine.”