Chương XXV. PORTHOS

Thay vì về nhà ngay, D'Artagnan vội vã xuống ngựa trước dinh thự của ông de Tréville rồi ba chân bốn cẳng chạy lên cầu thang. Lần này, chàng quyết định sẽ thành thật kể lại mọi chuyện. Chắc chắn ông de Tréville sẽ đưa ra những lời khuyên xác đáng để tháo gỡ toàn bộ rắc rối. Hơn thế nữa, bởi ông hầu như ngày nào cũng được yết kiến hoàng hậu, vị chỉ huy rất có thể sẽ dò hỏi được chút tung tích về người thiếu phụ đáng thương - người hẳn đang phải trả một cái giá quá đắt vì lòng trung thành với chủ nhân.

Ông de Tréville nét mặt nghiêm nghị lắng nghe câu chuyện của chàng trai trẻ. Rõ ràng, vị chỉ huy nhận ra ẩn sau cuộc phiêu lưu này là một âm mưu to lớn hơn nhiều chứ không chỉ đơn thuần là chuyện tình ái trăng hoa. Khi D'Artagnan vừa dứt lời, ông buông tiếng thở hắt: "Hừm! Mọi chuyện này nồng nặc mùi Giáo chủ, đứng cách xa cả dặm còn ngửi thấy."

"Nhưng giờ chúng ta phải làm gì thưa ngài?" D'Artagnan hỏi.

"Không làm gì cả, hiện tại tuyệt đối không manh động. Điều duy nhất cậu cần làm là rời khỏi Paris càng sớm càng tốt như ta đã khuyên. Ta sẽ xin yết kiến hoàng hậu để bẩm báo cặn kẽ về vụ mất tích của thiếu phụ đáng thương nọ, chắc hẳn Người vẫn chưa hay biết gì. Nắm được những manh mối này, Người sẽ biết phải làm sao, và đến khi cậu trở về, có lẽ ta sẽ có vài tin tốt lành để báo cho cậu. Cứ tin ở ta."

D'Artagnan thừa hiểu rằng, dù là dân Gascony chính gốc, ông de Tréville không bao giờ quen thói hứa hẹn suông. Một khi đã hứa, ông luôn thực hiện cẩn thận hơn cả sự mong đợi. Chàng trai trẻ cúi chào ông, cõi lòng ngập tràn niềm biết ơn vì những gì vị chỉ huy đã và sẽ làm cho mình. Về phần vị đội trưởng đáng kính, vốn đã cực kỳ mến mộ chàng thanh niên gan dạ và đầy quả quyết, ông ân cần siết chặt tay chàng, chúc cậu lên đường thượng lộ bình an.

Quyết tâm làm theo lời khuyên của ông de Tréville ngay tắp lự, D'Artagnan đi thẳng về phố des Fossoyeurs để giục giã việc sửa soạn hành lý. Lúc đến gần nhà, chàng bắt gặp lão Bonacieux đang đứng lù lù ngay ngưỡng cửa trong bộ đồ ngủ ban sáng. Bao nhiêu lời cảnh báo từ tối hôm trước của anh chàng Planchet thận trọng về bản chất nham hiểm của lão già lại ùa về trong tâm trí D'Artagnan. Chàng đưa mắt dò xét lão cẩn thận hơn. Quả thật, bỏ qua vẻ mặt nhợt nhạt ốm yếu ngả màu vàng vọt như người tràn mật - thứ có thể chỉ là tình cờ - D'Artagnan còn tinh ý nhận ra một nét ranh ma vô cùng xảo quyệt ẩn giấu trong từng nếp nhăn chuyển động trên khuôn mặt lão. Một kẻ lừa bịp chẳng bao giờ có thể cười giống một người lương thiện, cũng như một kẻ đạo đức giả tuyệt nhiên không thể rơi những giọt nước mắt của một người chân thành. Mọi sự dối trá quy cho cùng cũng chỉ là một chiếc mặt nạ. Mà mặt nạ dù có được chế tác tinh vi đến nhường nào, chỉ cần để tâm quan sát một chút, ta vẫn có thể bóc trần để thấy đâu là gương mặt thật.

Chính vì lẽ đó, D'Artagnan cảm giác lão Bonacieux đang tự đắp lên mặt một lớp ngụy trang, và lớp ngụy trang ấy mới đáng ghê tởm làm sao. Sự ghét bỏ cồn cào khiến chàng định lạnh lùng bước thẳng qua chẳng thèm buông lời, thế nhưng cũng hệt như hôm trước, lão Bonacieux lại lân la bắt chuyện.

"Chà, cậu thanh niên," lão mở lời, "có vẻ như cậu đã trải qua một đêm vui thú ra trò đấy nhỉ! Bảy giờ sáng! Ôi chao! Ngài có vẻ khoái đi ngược lại lề thói thông thường, mò về nhà vào đúng lúc người ta rục rịch ra đường."

"Chẳng ai dám quở trách lão về điều đó đâu, ông Bonacieux," chàng trai trẻ đáp trả; "lão quả là khuôn vàng thước ngọc về sự phép tắc. Có điều, khi một người đàn ông đã sở hữu một cô vợ vừa trẻ vừa đẹp, lão ta còn phải nhọc công đi tìm hạnh phúc ở đâu xa nữa. Hạnh phúc tự gõ cửa tìm đến với lão, đúng không thưa ông Bonacieux?"

Bonacieux thoáng chốc mặt mày trắng bệch như xác chết, miệng nhếch lên một nụ cười lạnh lẽo rùng rợn.

"À, à!" Bonacieux gượng gạo, "ngài đúng là một cậu bạn vui tính! Nhưng rốt cuộc thì ngài đã lêu lổng ở xó xỉnh nào suốt đêm qua vậy, cậu chủ trẻ của tôi? Đường sá xem chừng chẳng được sạch sẽ cho lắm."

D'Artagnan cúi nhìn đôi bốt lấm lem bùn đất của mình, thế nhưng ánh mắt chàng vô tình chạm phải đôi giày và tất của gã bán chỉ tơ. Quả không ngoa khi nói rằng chúng dường như vừa được nhúng vào cùng một vũng lầy. Cả hai đôi đều bị vấy những vệt bùn giống hệt nhau.

Một tia sáng chợt lóe lên trong đầu D'Artagnan. Cái gã đàn ông thấp bé, mập mạp, luống tuổi, diện bộ đồ tối màu trông chẳng khác nào một tên tay sai, kẻ bị những gã lính tráng vũ trang đầy mình trong đội hộ tống đối xử không chút nể nang - gã đó chính là lão Bonacieux! Tên chồng đốn mạt đã đích thân nhúng tay vào vụ bắt cóc chính vợ mình!

Một sự bực tức sục sôi cuộn trào bóp nghẹt lấy D'Artagnan, hối thúc chàng túm lấy cổ tên bán chỉ tơ và bóp chết tươi lão cho xong. Thế nhưng, như chúng ta đã biết, chàng là một thanh niên hành xử vô cùng thận trọng, và chàng đã kiềm chế được cơn bốc đồng. Dù vậy, sát khí đằng đằng hằn rõ trên nét mặt chàng vẫn khiến Bonacieux một phen hồn xiêu phách lạc. Lão sợ hãi cố lùi lại một, hai bước, song vì đang đứng chặn ngay trước cánh cửa hé mở, vật cản ấy buộc lão phải chôn chân tại chỗ.

"Chà, lão đang đùa đấy à, ông bạn tốt của tôi!" D'Artagnan mỉa mai. "Tôi thấy là, nếu đôi bốt của tôi cần đến một miếng bọt biển, thì tất và giày của lão cũng cần một chiếc bàn chải chẳng kém đâu. Ai mà biết được, khéo lão cũng vừa lượn lờ buông lời trăng hoa ở đâu đó cũng nên, thưa ông Bonacieux? Ôi, trời đất quỷ thần ơi! Thói tật đó quả là không thể dung thứ ở một kẻ đã bằng ngần này tuổi đầu, lại còn sở hữu một cô vợ xinh đẹp nhường ấy!"

"Ôi, lạy Chúa lòng lành! Nào có chuyện đó," Bonacieux vội vã chối quanh, "chẳng qua là hôm qua tôi có lội bộ đến St. Mandé để dò hỏi về một người hầu phòng, ngài cũng biết là tôi chẳng thể sống thiếu người hầu được; ngặt nỗi đường sá thì lầy lội kinh khủng nên tôi mới vác cả đống bùn này về đây, còn chưa kịp rảnh tay mà phủi cho sạch."

Cái địa danh Bonacieux vừa buột miệng thốt ra làm điểm đến cho chuyến đi lại càng củng cố thêm mối nghi ngờ trong lòng D'Artagnan. Bonacieux cố tình bịa ra cái tên Mandé đơn giản bởi Mandé nằm ở hướng đối lập hoàn toàn với St. Cloud. Phát hiện này mang lại cho chàng tia hy vọng đầu tiên. Một khi Bonacieux đã nắm thóp nơi giam giữ vợ, người ta hoàn toàn có thể dùng vũ lực ép gã bán chỉ tơ phải cạy miệng nhả ra bí mật. Vấn đề cốt lõi bây giờ là làm cách nào để biến cái khả năng ấy thành sự thật.

"Xin thứ lỗi, ông Bonacieux kính mến, nếu tôi có lỡ đánh mất phép lịch sự," D'Artagnan nói, "nhưng trên đời này chẳng có gì vắt kiệt sức người ta và gây khát nước bằng việc thiếu ngủ. Cổ họng tôi đang khô khốc cả lại. Xin phép lão cho tôi vào phòng uống một ngụm nước; lão biết đấy, hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn ai lại từ chối nhau điều cỏn con ấy."

Chẳng màng đợi sự đồng ý của chủ nhà, D'Artagnan đi thẳng một mạch vào trong, ánh mắt sắc lẹm lướt nhanh về phía chiếc giường. Nó hoàn toàn phẳng phiu chưa hề có dấu vết người nằm. Bonacieux đâu có ngủ ở nhà đêm qua. Lão chắc mẩm chỉ mới mò về được chừng một, hai canh giờ; hẳn lão vừa thân chinh áp giải cô vợ đáng thương đến tận nơi giam cầm, hoặc chí ít cũng là đến trạm dừng chân đầu tiên.

"Cảm ơn lão, ông Bonacieux," D'Artagnan cất tiếng, ngửa cổ nốc cạn cốc nước, "đó là tất cả những gì tôi cần. Giờ thì tôi lên phòng đây. Tôi sẽ gọi Planchet ra đánh sạch đôi bốt; và ngay khi anh ta xong việc, nếu lão muốn, tôi sẽ phái anh ta xuống chải giày cho lão luôn."

Dứt lời, chàng quay lưng bước đi, bỏ lại gã bán chỉ tơ đứng chết trân ngơ ngác trước lời chào tạm biệt đầy mỉa mai, trong lòng nơm nớp tự hỏi liệu bản thân có trót dại lỡ miệng điều gì hay không. Vừa bước lên đến đầu cầu thang, chàng đã thấy Planchet mặt mày tái mét vì sợ hãi.

"Ôi, thưa ngài!" Planchet thất thanh kêu lên ngay khi thấy bóng dáng chủ nhân, "lại có chuyện tày đình rồi. Tôi còn ngỡ ngài sẽ một đi không trở lại cơ đấy."

"Có chuyện gì vậy, Planchet?" D'Artagnan nhíu mày gặng hỏi.

"Ôi! Có cho ngài đoán một trăm hay một ngàn lần, thưa ngài, ngài cũng chẳng thể ngờ được tôi vừa phải tiếp đón vị khách nào trong lúc ngài đi vắng đâu."

"Khi nào?"

"Khoảng chừng nửa canh giờ trước, khi ngài đang ở dinh thự của ông de Tréville."

"Ai đã đến đây? Nhanh nào, nói ta nghe."

"Ông de Cavois."

"Ông de Cavois?"

"Chính là ngài ấy."

"Đội trưởng đội cận vệ của Giáo chủ ư?"

"Chính là ngài ấy."

"Ông ta đến để tóm cổ ta à?"

"Tôi tin chắc mười mươi là như vậy, thưa ngài, dẫu cho ông ta có cố làm ra vẻ ngon ngọt đến đâu chăng nữa."

"Thế ông ta tỏ ra ngon ngọt lắm sao?"

"Thật sự, ông ta cứ như rót mật vào lỗ tai, thưa ngài."

"Thật sao!"

"Ông ta bảo rằng, ông ta đích thân đến đây thay mặt cho Đức ngài, người đang rất có thiện cảm với ngài, và muốn mời ngài theo ông ta đến Palais-Royal*1."

* Nơi này từng được gọi là Palais-Cardinal (Cung điện Giáo chủ) trước khi Richelieu dâng lại cho Nhà vua.

"Thế anh bạn đã đối đáp với ông ta thế nào?"

"Tôi đáp rằng điều đó là bất khả thi, vì ngài không có ở nhà, như ông ta đã thấy mười mươi đấy."

"Vậy, sau đó ông ta nói gì?"

"Rằng ngài nhất định phải diện kiến ông ta ngay trong ngày hôm nay; và rồi ông ta cố tình hạ giọng thì thầm: 'Hãy nói với chủ của anh rằng Đức ngài vô cùng ưu ái cậu ấy, và tiền đồ của cậu ấy có lẽ phụ thuộc hoàn toàn vào cuộc tao ngộ này.'"

"Một cái bẫy khá là vụng về nếu so với bản lĩnh của Giáo chủ," chàng trai trẻ tủm tỉm cười đáp.

"Ôi, tôi đã đi guốc trong bụng ông ta rồi, và tôi đáp ngay rằng ngài sẽ tiếc đứt ruột khi trở về.

'Thế cậu ta đã đi đâu?' ông de Cavois tra hỏi.

'Đến Troyes, tận vùng Champagne cơ ạ,' tôi trả lời.

'Thế cậu ta khởi hành từ khi nào?'

'Từ chập tối hôm qua.' "

"Planchet, anh bạn của ta," D'Artagnan vỗ vai ngắt lời, "anh quả thực là một người đồng hành đáng giá ngàn vàng."

"Ngài hiểu cho, thưa ngài, tôi nghĩ bây giờ mọi sự vẫn còn kịp vãn hồi, nếu ngài muốn, ngài có thể đi gặp ông de Cavois và bác bỏ lời tôi bằng cách thanh minh rằng ngài vẫn chưa rời đi. Lời nói dối đó khi ấy sẽ tự khắc trút hết lên đầu tôi, và vì tôi xuất thân thấp hèn chẳng phải dòng dõi quý tộc, tôi hoàn toàn được quyền nói dối."

"Cứ vững tâm đi, Planchet, anh bạn sẽ giữ nguyên được tiếng thơm là một kẻ bộc trực thật thà. Nội trong mười lăm phút nữa chúng ta sẽ khởi hành ngay tắp lự."

"Đó chính xác là lời khuyên tôi định thưa với ngài; tiện đây xin phép được hỏi chúng ta sẽ đi đâu, hy vọng ngài không chê trách cái tính tọc mạch của tôi?"

"Lạy Chúa lòng lành! Dĩ nhiên là đi theo hướng ngược lại với hướng mà anh vừa ném vào mặt ông ta. Hơn thế nữa, chẳng lẽ anh bạn không nóng lòng muốn rõ sống chết của Grimaud, Mousqueton và Bazin giống hệt như cách ta đang sốt sắng muốn biết chuyện quái quỷ gì đã xảy ra với Athos, Porthos và Aramis sao?"

"Vâng, thưa ngài," Planchet gật gù, "tôi sẽ nai nịt lên đường ngay khi ngài ra lệnh. Thú thật, tôi cho rằng bầu không khí ở tỉnh lẻ lúc này sẽ tốt cho sức khỏe của chúng ta hơn gấp vạn lần cái bầu không khí ngột ngạt ở Paris. Vậy thì..."

"Vậy thì, gói ghém hành trang mau lên, Planchet, chúng ta sẽ lên đường. Về phần ta, ta sẽ thủng thẳng bước ra ngoài với hai tay đút túi quần, làm như không có chuyện gì để tránh bứt dây động rừng. Anh có thể hội quân cùng ta tại Hôtel des Gardes (Quán trọ Đội Cận vệ). À này, Planchet, ta cho là anh đã hoàn toàn đúng về gã chủ nhà của chúng ta, lão ta đích thị là một tên cặn bã ghê tởm."

"Ôi, thưa ngài, ngài hoàn toàn có thể tin tưởng tuyệt đối vào bất cứ điều gì tôi thốt ra. Tôi có con mắt tinh đời coi tướng mạo người ta mà, tôi dám lấy mạng mình ra đoan chắc với ngài."

D'Artagnan thản nhiên rảo bước ra ngoài trước như đã bàn tính. Sau đó, để lương tâm không phải dằn vặt, chàng quyết định vòng lại, cất bước lần cuối về phía khu trọ của ba người bạn. Vẫn bặt vô âm tín; tất cả những gì còn lại chỉ là một phong thư thơm phức, nắn nót những dòng chữ nhỏ nhắn thanh tao gửi đích danh Aramis. D'Artagnan cẩn thận cất phong thư vào người. Đúng mười phút sau, Planchet đã đến điểm hẹn tại khu chuồng ngựa của quán Hôtel des Gardes. Nhằm tránh phung phí dù chỉ là một khoảnh khắc quý giá, D'Artagnan đã tự tay thắng yên ngựa.

"Tốt lắm," chàng khích lệ Planchet, khi thấy người hầu đã cột chặt chiếc túi đồ lề vào hành trang. "Bây giờ hãy lôi nốt ba con ngựa còn lại ra thắng yên đi."

"Ngài thực sự nghĩ vậy sao, thưa ngài, rằng mỗi người cưỡi hai con ngựa thì chúng ta sẽ phi nhanh hơn chăng?" Planchet nói, nét mặt ánh lên vẻ lém lỉnh.

"Không đâu, cái đồ láu cá này," D'Artagnan bật cười đáp trả; "nhưng với bốn con ngựa này, chúng ta có thể chở ba người anh em của ta trở về, nếu Chúa rủ lòng thương cho chúng ta tìm thấy họ hãy còn sống sót."

"Đó là một phước lành quá lớn," Planchet lầm bầm, "nhưng phàm ở đời tuyệt đối không bao giờ được phép mất niềm tin vào lòng thương xót của Đức Chúa Trời."

"Amen!" D'Artagnan trang nghiêm đáp, nhún mình nhảy phắt lên yên ngựa.

Vừa rời khỏi quán Hôtel des Gardes, hai thầy trò tách nhau ra, mỗi người rẽ một hướng ở hai đầu phố đối diện. Một người lặng lẽ rời Paris qua cửa ô Barrière de la Villette, trong khi người kia chuồn qua ngả Barrière Montmartre, để rồi hội quân ở bờ bên kia St. Denis - một chiến thuật dương đông kích tây được phối hợp nhịp nhàng với độ chuẩn xác tuyệt đối, và trên thực tế đã mang lại những kết quả hết sức khả quan. D'Artagnan và Planchet sau đó sát cánh bên nhau phi ngựa tiến thẳng vào Pierrefitte.

Công bằng mà nói, Planchet luôn tỏ ra gan góc vào ban ngày hơn là ban đêm. Dẫu vậy, sự đề phòng cảnh giác đã ăn vào máu chưa bao giờ buông tha anh dù chỉ một tích tắc. Anh chàng ghi lòng tạc dạ từng biến cố nhỏ nhặt nhất trong chuyến đi bão táp đầu tiên, và phóng ánh mắt dò xét hằn học như thể nhìn kẻ thù về phía bất cứ bóng người nào tình cờ chạm mặt trên đường. Hệ quả là chiếc mũ trên đầu lúc nào cũng được anh lăm lăm cầm sẵn trên tay để chực chào hỏi, một thói quen khiến anh phải hứng chịu vô số lời quở trách nặng nề từ D'Artagnan. Chàng quý tộc trẻ lo ngay ngáy rằng cái sự lịch thiệp thái quá của anh lính hầu sẽ khiến người ngoài lầm tưởng anh đang cúc cung tận tụy cho một gã vô danh tiểu tốt nào đó.

Tuy nhiên, dù là vì những khách bộ hành trên đường bị đả động bởi sự cung kính nhún nhường của Planchet, hay đơn giản vì lần này chẳng có kẻ nào bủa lưới mai phục trên lộ trình của chàng trai trẻ, thì hai kẻ lữ hành của chúng ta rốt cuộc cũng an toàn đặt chân đến Chantilly mà không gặp phải mảy may tai nạn nào. Cả hai xuống ngựa ngay trước thềm quán trọ Great St. Martin, chính là nơi họ từng tá túc trong chuyến đi bão táp dạo trước.

Thấy một thanh niên trẻ tuổi có người hầu theo hầu và dắt theo hai con ngựa dự bị, ông chủ quán đon đả chạy ra tận cửa cung kính đón rước. Lúc này, vì đã vượt qua chặng đường mười một dặm, D'Artagnan nghĩ cũng đến lúc phải dừng chân nghỉ ngơi, dù Porthos có còn ở quán trọ hay không. Chàng thầm nhủ, nếu vội vã vặn hỏi tung tích của người anh em Lính ngự lâm ngay lập tức thì e là không ngoan ngoãn cho lắm. Suy tính xong xuôi, D'Artagnan chẳng buồn hé răng hỏi han nửa lời, ung dung xuống ngựa, giao thú cưỡi cho người hầu chăm lo rồi sải bước vào một căn buồng nhỏ yên tĩnh. Chàng dõng dạc sai chủ quán mang lên chai rượu nho hảo hạng nhất và dọn một bữa điểm tâm thịnh soạn nhất có thể. Yêu cầu hào phóng này càng củng cố thêm ấn tượng tuyệt vời mà lão chủ quán đã dành cho vị khách quý ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Trung đoàn Cận vệ vốn được tuyển lựa khắt khe từ những danh gia vọng tộc hàng đầu vương quốc. Bởi vậy, D'Artagnan, với người hầu theo sát nút và bốn con tuấn mã tuyệt đẹp, dù khoác trên mình bộ đồng phục giản dị, vẫn dư sức tỏa ra uy phong lẫm liệt. Thấy chủ quán cứ chực chờ muốn tự tay hầu hạ mình, D'Artagnan bèn sai lão lấy thêm hai chiếc ly, rồi bắt đầu khơi mào câu chuyện.

"Thực tình mà nói, hỡi ông chủ quán tốt bụng," D'Artagnan cất lời, tay thong thả rót đầy hai ly rượu sóng sánh, "ta đã gọi chai rượu ngon nhất quán ông, và nếu ông dám đem hàng rởm ra lừa ta, ông sẽ phải tự nếm quả đắng đấy. Ta vốn rất ghét cảnh nâng ly một mình, nên ông sẽ phải uống cùng ta. Nào, cầm ly lên, chúng ta cùng cạn chén. Nhưng ta biết chúc gì đây để khỏi làm mếch lòng ai nhỉ? Thôi thì, cạn ly vì sự thịnh vượng của quán trọ này vậy!"

"Ngài làm tôi vinh hạnh quá," lão chủ quán xun xoe, "tôi xin chân thành cảm tạ lời chúc tốt lành của ngài."

"Đừng vội hiểu lầm," D'Artagnan cười nhạt, "lời chúc của ta mang đầy tư lợi hơn ông tưởng đấy. Bởi lẽ, chỉ ở những nơi buôn may bán đắt, khách khứa mới được đón tiếp chu đáo. Còn ở những cái quán xập xệ ế ẩm, mọi thứ lúc nào cũng rối tung rối mù, và khách qua đường vô tình trở thành tấm bia trút giận cho những rắc rối của chủ quán. Ta thì lại rày đây mai đó, nhất là trên tuyến đường này, nên ta luôn mong sao tất cả các chủ quán trọ đều làm ăn phát đạt."

"Dường như," lão chủ quán dò xét, "đây không phải là lần đầu tiên tôi có vinh hạnh được đón tiếp ngài thì phải."

"Chà, ta qua lại Chantilly này có lẽ cũng đến chục lần rồi, và trong mười bận đó thì ít nhất cũng ba bốn bận ta ghé lại quán ông. Lạ gì, cách đây chừng mười, mười hai ngày ta mới dừng chân ở đây cơ mà. Lúc đó ta đang dẫn đường cho vài người bạn ruột, toàn là Lính ngự lâm cả. À, nhân tiện, một người trong số họ đã có màn cự cãi nảy lửa với một kẻ lạ mặt - một gã bỗng dưng kiếm cớ sinh sự với anh ấy, vì lý do chết tiệt gì thì ta cũng chẳng rành."

"Dạ, đúng là có chuyện đó," lão chủ quán đáp lời; "tôi nhớ rành rành. Có phải ngài đang nhắc đến ngài Porthos không ạ?"

"Chính xác, đó là tên người bạn đồng hành của ta. Lạy Chúa tôi, ông chủ quán tốt bụng, hãy kể cho ta nghe xem, liệu có chuyện rủi ro gì đã xảy ra với anh ấy không?"

"Chắc hẳn ngài cũng nhận ra là ngài ấy không thể tiếp tục cuộc hành trình cùng ngài."

"Thật vậy, anh ấy đã thề thốt sẽ đuổi kịp bọn ta, vậy mà bọn ta mỏi mắt ngóng chờ vẫn chẳng thấy tăm hơi."

"Ngài ấy đã ban cho tệ xá niềm vinh hạnh được lưu ngài ấy lại."

"Cái gì, anh ấy đã ban cho ông vinh dự được ở lại đây sao?"

"Dạ vâng, thưa ngài, ngay trong ngôi nhà này; và nói thật thì, chúng tôi cũng đang đâm ra hơi lo lắng..."

"Lo lắng chuyện gì?"

"Dạ, về một vài khoản chi phí mà ngài ấy đã vung tay quá trán."

"Chà, nhưng dù anh ấy có tiêu xài hoang phí thế nào, ta dám chắc anh ấy thừa sức thanh toán sòng phẳng."

"Ôi, thưa ngài, ngài vừa ban cho tôi một liều thuốc tiên đấy ạ! Chúng tôi đã phải ứng trước cho ngài ấy những khoản tiền không nhỏ; thế mà ngay sáng nay, lão bác sĩ phẫu thuật vừa sẵng giọng tuyên bố rằng nếu ngài Porthos không chịu trả tiền, lão sẽ đè đầu tôi ra mà đòi, vì chính tôi là người đã sai lính chạy đi rước lão tới."

"Vậy là Porthos bị thương sao?"

"Tôi chẳng dám tiết lộ cho ngài đâu, thưa ngài."

"Cái gì! Ông không dám nói cho ta nghe ư? Rõ ràng ông phải rành rẽ hơn bất kỳ ai chứ."

"Dạ đúng; nhưng trong cảnh ngộ của chúng tôi, mở miệng nói ra những điều mình biết là điều tối kỵ - nhất là khi chúng tôi đã bị dọa rằng, nếu cái lưỡi này mà lỡ lời, thì đôi tai sẽ phải trả giá đắt."

"Vậy, ta có thể vào thăm Porthos được không?"

"Chắc chắn là được rồi, thưa ngài. Ngài cứ bước lên cầu thang bên tay phải; lên tầng một rồi gõ cửa phòng Số Một. Nhưng ngài nhớ xưng danh trước khi vào nhé."

"Sao ta lại phải làm cái trò đó?"

"Bởi vì, thưa ngài, nhỡ đâu có chuyện không hay xảy đến với ngài thì khốn."

"Nhân danh Chúa, lại có thể có thứ rắc rối quỷ quái gì được chứ?"

"Ngài Porthos có thể nhầm ngài với người làm trong quán, rồi trong cơn bực tức, ngài ấy lại rút kiếm lụi cho ngài một nhát hoặc cho ngài ăn kẹo đồng vào não thì khổ."

"Thế các ông đã chọc giận gì anh ấy?"

"Dạ, chúng tôi chỉ mạo muội xin ngài ấy thanh toán tiền."

"Quỷ tha ma bắt! À, ta thì lạ gì cái nết đó. Thường thì Porthos chúa ghét bị đòi tiền lúc cháy túi; mà hiện tại thì ta dư sức đoán anh ấy đang rơi vào cảnh ngộ bi đát ấy."

"Chúng tôi cũng trộm nghĩ thế, thưa ngài. Vì cái quán trọ này xưa nay làm ăn rất bài bản, tuần nào cũng phải chốt sổ rõ ràng, nên cứ đến cuối ngày thứ tám là chúng tôi lại rụt rè đưa hóa đơn ra; nhưng có vẻ như chúng tôi đã chọn sai thời điểm, vì tôi mới vừa mở miệng, ngài ấy đã chửi rủa tống tiễn chúng tôi xuống địa ngục. Sự tình là ngày hôm trước ngài ấy vừa mới sát phạt trên sòng bài."

"Chơi bài vào ngày hôm trước ư! Thế anh ấy tỉ thí với ai?"

"Lạy Chúa tôi, ai mà biết được hả ngài? Với một tay quý tộc nào đó lỡ bước qua đây, được ngài ấy rủ rê làm một ván lansquenet2."

"Ra là thế, và gã ngốc đó đã thua nhẵn túi hở?"

"Đánh cược luôn cả con ngựa của mình cơ, thưa ngài; bởi khi vị quý tộc nọ rục rịch lên đường, chúng tôi thấy gã người hầu của ông ta đang nai nịt yên cương cho con tuấn mã của ngài Porthos, cùng với ngựa của chủ hắn. Khi chúng tôi đánh bạo báo cáo sự tình, ngài ấy chỉ gắt gỏng bảo chúng tôi hãy tự đi mà lo chuyện bao đồng, vì con ngựa ấy đã thuộc về ngài ấy rồi. Chúng tôi vẫn kiên nhẫn kể rõ mọi sự tình đang diễn ra; nhưng ngài ấy lại mắng nhiếc chúng tôi là lũ vô học khi dám nghi ngờ lời nói của một quý tộc, ngài ấy bảo ngựa của ngài ấy thì vẫn là của ngài ấy, thế thôi."

"Đúng là phong cách quen thuộc của Porthos rồi," D'Artagnan tủm tỉm lẩm bẩm.

"Sau đó," lão chủ quán tiếp lời, "tôi mới nhỏ nhẹ thưa rằng, vì hiện tại đôi bên khó mà tìm được tiếng nói chung trong chuyện tiền nong, tôi hy vọng ngài ấy sẽ rủ lòng thương mà dời gót sang làm thượng khách của người anh em đồng nghiệp ở quán Đại Bàng Vàng; nhưng ngài Porthos thẳng thừng tuyên bố, quán của tôi là nhất hạng, nên ngài ấy cứ ở lỳ đây thôi. Câu trả lời ngọt xớt ấy khiến tôi đành ngậm bồ hòn làm ngọt, chẳng dám đuổi ngài ấy đi nữa. Tôi đành hạ mình nài nỉ ngài ấy nhường lại cái phòng đang ở - vốn là phòng sang trọng nhất quán - để chuyển lên căn gác xép nhỏ nhắn trên tầng ba; thế nhưng ngài Porthos lại gạt phắt đi, bảo rằng ngài ấy đang mỏi mắt ngóng đợi tình nhân, mà đó lại là một bậc phu nhân quyền quý bậc nhất chốn cung đình, nên tôi thừa hiểu là ngay cả căn phòng ngài ấy đang ban ơn nghỉ lại cũng còn quá ư tồi tàn so với thân thế của một khách quý như thế. Dù phải thừa nhận lý lẽ của ngài ấy rất lọt tai, tôi vẫn thấy phải kiên quyết đòi lại phòng; ngặt nỗi ngài ấy chẳng thèm phí lời đôi co với tôi, cứ rút phăng khẩu súng ngắn, đập cốp lên bàn, để đó cả ngày lẫn đêm, rồi gầm gừ đe dọa rằng hễ ai còn dám hé răng nói thêm một lời về chuyện đổi phòng, dù là trong nhà hay ngoài ngõ, ngài ấy sẽ thổi bay óc kẻ dám chõ mõm vào chuyện riêng của ngài ấy. Từ dạo đó, thưa ngài, chẳng ma nào dám bén mảng đến phòng ngài ấy ngoại trừ gã người hầu."

"Cái gì! Mousqueton cũng ở đây ư?"

"Ôi, vâng thưa ngài. Ngài đi được năm hôm thì hắn ta vác mặt về, bộ dạng cũng thảm hại khôn tả. Hình như hắn cũng mới trải qua chuỗi ngày sóng gió bão bùng. Khổ nỗi, tên này còn ranh ma hơn cả chủ; lấy cớ vì lợi ích của chủ nhân, hắn chà đạp lên đầu lên cổ tất cả chúng tôi, và vì hắn đinh ninh chúng tôi không dám từ chối yêu sách của mình, hắn cứ tự nhiên vơ vét mọi thứ mình cần mà chẳng thèm buông một lời xin phép."

"Thực ra thì," D'Artagnan bật cười, "ta luôn đánh giá cao trí thông minh và lòng trung thành tuyệt đối của Mousqueton."

"Chắc là ngài nói đúng; nhưng ngài thử đặt mình vào vị trí của tôi mà xem, nếu tôi phải đối phó với cái thứ trí thông minh và lòng trung thành ấy chừng bốn lần mỗi năm thôi - thì ôi chao, tôi sạt nghiệp mất!"

"Không đến nỗi đâu, Porthos sẽ thanh toán đủ cho ông mà."

"Hừm!" lão chủ quán ậm ừ, giọng đầy hồ nghi.

"Một người được các phu nhân quyền quý sủng ái sẽ không bao giờ để mình phải bẽ mặt vì dăm ba đồng bạc lẻ nợ ông đâu."

"Giá mà tôi dám hé môi nói ra những gì tôi đoán biết về chuyện đó..."

"Ông đoán biết chuyện gì?"

"Phải nói là, những gì tôi rành rẽ thì đúng hơn."

"Ông rành rẽ chuyện gì?"

"Mà còn là những gì tôi chắc như đinh đóng cột nữa kìa."

"Và ông chắc chắn về điều gì?"

"Tôi xin thưa thật là tôi biết tòng tong vị phu nhân quyền quý này."

"Ông ư?"

"Vâng; chính tôi đây."

"Thế làm quái nào ông lại biết bà ta?"

"Ôi, thưa ngài, chỉ khi nào ngài hứa sẽ giữ kín miệng giùm tôi."

"Nói đi! Lấy danh dự của một quý tộc, ta thề ông sẽ không bao giờ phải hối hận vì đã tin tưởng ta."

"Dạ vâng, thưa ngài, ngài cũng dư hiểu là nỗi lo cơm áo gạo tiền đôi khi ép chúng tôi phải làm đủ trò."

"Thế ông đã làm trò gì?"

"Ôi, với tư cách là chủ nợ thì có làm gì cũng đâu có gì là quá đáng."

"Thế là thế nào?"

"Ngài Porthos có đưa cho chúng tôi một phong thư gửi cho vị nữ công tước của ngài ấy, lệnh cho chúng tôi phải đi gửi ngay qua đường bưu điện. Chuyện này xảy ra trước lúc gã người hầu của ngài ấy mò về. Vì ngài ấy cứ ru rú trong phòng, nên đành phải phó thác chuyện này cho chúng tôi."

"Rồi sao nữa?"

"Thay vì vứt bức thư vào bưu điện, cái chốn chẳng lấy gì làm đảm bảo, tôi bèn chớp cơ hội sai ngay một thằng học việc đang định lên Paris, bắt nó phải tận tay dâng bức thư này cho vị nữ công tước nọ. Như thế chẳng phải là tôi đang tuân thủ răm rắp ý muốn của ngài Porthos, người luôn dặn dò chúng tôi phải cẩn thận hết sức với bức thư này sao?"

"Kể cũng đúng."

"Chà, thưa ngài, ngài có biết vị phu nhân quyền quý này là ai không?"

"Không; ta chỉ nghe Porthos loáng thoáng nhắc đến, thế thôi."

"Ngài có biết vị nữ công tước tự xưng này là ai không?"

"Ta nhắc lại cho ông nhớ, ta không quen biết bà ta."

"Ôi dào, bà ta là mụ vợ già của một lão ủy viên công tố*3 làm việc ở nhà tù Châtelet4, thưa ngài, tên mụ là phu nhân Coquenard, tuy chí ít cũng đã ngót nghét năm mươi, nhưng vẫn còn máu ghen tuông dữ dội lắm. Tôi thấy thật nực cười khi một công nương cành vàng lá ngọc lại chui rúc ở cái phố aux Ours."

* Ủy viên công tố

"Nhưng làm sao ông biết rành rẽ ngần ấy chuyện?"

"Bởi vì lúc nhận được thư, mụ ta đã lồng lộn lên như một con điên, lu loa lên rằng ngài Porthos là một gã trăng hoa đểu giả, và mụ dám chắc chắn cái vết thương này là hậu quả của việc ngài ấy đi tòm tem với con mụ nào đó."

"Vậy là anh ấy đã bị thương sao?"

"Ôi, lạy Chúa lòng lành! Tôi vừa lỡ mồm nói cái gì thế này?"

"Ông vừa thốt ra là Porthos đã ăn một nhát kiếm."

"Vâng, nhưng ngài ấy đã cấm tiệt tôi không được hở môi chuyện đó."

"Và tại sao lại phải giấu giếm thế?"

"Trời cao đất dày ơi, thưa ngài! Bởi vì ngài ấy đã lớn tiếng bốc phét rằng sẽ đâm cho gã lạ mặt kia - cái gã mà ngài đã bỏ lại để tranh cãi với ngài ấy - thủng lỗ chỗ như cái sàng; nhưng sự đời trớ trêu, gã lạ mặt kia, bất chấp những lời huênh hoang của ngài ấy, đã cho ngài ấy nếm mùi thất bại chớp nhoáng. Vốn mang tính sĩ diện hão, ngài Porthos sống chết bắt mọi người phải câm như hến về vết thương này, ngoại trừ vị nữ công tước kia, người mà ngài ấy đang cố rót mật vào tai bằng câu chuyện thêu dệt về cuộc phiêu lưu của mình."

"Vết thương đó nặng đến mức khiến anh ấy phải nằm liệt giường sao?"

"Vâng, và đó là một nhát chí mạng nữa kìa, tôi xin cam đoan với ngài đấy. Linh hồn của bạn ngài hẳn phải dính chặt vào thể xác lắm mới không xuất ra khỏi xác đấy."

"Vậy là ông đã có mặt ở đó sao?"

"Thưa ngài, vì tò mò nên tôi lén lút bám theo họ, nhờ thế mà tôi đã được chiêm ngưỡng toàn bộ cuộc đọ kiếm mà hai người họ chẳng hề mảy may hay biết."

"Và mọi chuyện đã diễn ra thế nào?"

"Ôi! Trận đấu kết thúc chóng vánh lắm, tôi cam đoan với ngài. Họ vừa vào thế thủ; gã lạ mặt múa một đường kiếm nhử rồi đâm sầm tới, và đòn đó chớp nhoáng đến mức ngài Porthos chỉ vừa kịp giơ kiếm đỡ gạt, thì ngực ngài ấy đã ngập sâu ba tấc thép rồi. Ngài ấy lập tức ngã bổ chửng ra sau. Gã lạ mặt gí sát mũi kiếm vào cổ ngài ấy; và ngài Porthos, biết mình đang nằm dưới lưỡi hái tử thần của đối thủ, đành ngậm ngùi nhận thua. Nghe vậy, gã lạ mặt mới hỏi tên ngài ấy, và khi biết đó là Porthos chứ không phải D'Artagnan, hắn bèn đỡ ngài ấy dậy, dìu về quán trọ, rồi nhảy tót lên ngựa và lặn mất tăm."

"Vậy là gã lạ mặt này chủ tâm muốn gây sự với ngài d'Artagnan sao?"

"Dạ, xem ra là vậy."

"Và ông có biết gã đã đi đâu về đâu không?"

"Không, trước giây phút đó tôi chưa từng chạm mặt hắn, và từ đó trở đi cũng bặt vô âm tín luôn."

"Rất tốt; ta đã nắm được tất cả những gì ta muốn biết. Phòng của Porthos, ông nói là, ở tầng một, Số Một à?"

"Vâng, thưa ngài, căn phòng lộng lẫy nhất quán trọ - một căn phòng mà tôi có thể cho thuê đi thuê lại đến hàng chục bận."

"Chà! Cứ yên tâm," D'Artagnan bật cười rạng rỡ, "Porthos sẽ thanh toán đủ cho ông bằng tiền của Nữ công tước Coquenard."

"Ôi, thưa ngài, vợ ủy viên công tố hay nữ công tước đi chăng nữa, chỉ cần bà ta chịu mở hầu bao thì cũng như nhau cả thôi; nhưng ngặt nỗi bà ta đã ném lại một câu phũ phàng rằng bà ta đã chán ngấy những đòi hỏi vô độ và thói trăng hoa của ngài Porthos rồi, và rằng bà ta sẽ chẳng vứt cho ngài ấy một cắc nào sất."

"Và ông đã bẩm báo lại câu trả lời này cho khách của mình chưa?"

"Chúng tôi phải cẩn thận giấu nhẹm chuyện đó chứ; bằng không ngài ấy sẽ đánh hơi ra cái cách chúng tôi đã thực thi mệnh lệnh của ngài ấy ngay."

"Vậy là anh ấy vẫn đang mỏi cổ ngóng tiền sao?"

"Ôi, lạy Chúa, vâng thưa ngài! Hôm qua ngài ấy lại viết một phong thư nữa; nhưng lần này thì chính tay gã người hầu của ngài ấy đã mang thư ra bưu điện."

"Ông bảo vợ ủy viên công tố vừa già vừa xấu à?"

"Ít nhất cũng phải ngót năm mươi, thưa ngài, và nhan sắc thì chẳng có gì đáng để bàn tới, theo như lời thằng Pathaud kể lại."

"Nếu vậy thì ông cứ kê cao gối mà ngủ; bà ta sẽ chóng nguôi ngoai thôi. Hơn nữa, Porthos không thể nợ ông một khoản quá lớn được."

"Sao lại không lớn! Đã tròn trĩnh hai mươi đồng pistole vàng5 ngon ơ rồi đấy ạ, đó là chưa thèm tính tiền bác sĩ. Ngài ấy ăn xài bạt mạng, chẳng bao giờ từ chối món ngon vật lạ nào; ngài thừa biết ngài ấy quen thói vung tay quá trán rồi mà."

"Đừng bận tâm; nếu người tình có rũ bỏ anh ấy đi nữa, anh ấy vẫn sẽ tìm được những người bạn khác sẵn lòng cưu mang, ta lấy danh dự đảm bảo đấy. Vậy nên, ông chủ quán thân mến, đừng vắt óc lo âu nữa, hãy tiếp tục tận tâm săn sóc anh ấy như tình trạng bệnh tật của anh ấy đang cần."

"Nhưng ngài đã thề thốt với tôi là sẽ không hé răng nửa lời về mụ vợ của ủy viên công tố, và tuyệt đối không đả động gì đến vết thương cơ mà?"

"Đồng ý; ông có lời hứa danh dự của ta."

"Ôi, ngài ấy mà biết thì sẽ lấy mạng tôi mất!"

"Đừng run sợ; anh ấy không đáng sợ như cái vẻ bề ngoài đâu."

Buông những lời an ủi ấy, D'Artagnan thong thả bước lên lầu, để lại lão chủ quán thở phào nhẹ nhõm và cảm thấy an tâm hơn đôi chút về hai nỗi canh cánh trong lòng - món nợ khó đòi và cái mạng quèn của mình.

Vừa bước đến đầu cầu thang, D'Artagnan đã trông thấy một số "1" khổng lồ được viết bằng mực đen trên cánh cửa nổi bật nhất dọc hành lang. Chàng gõ cửa, nghe tiếng mời vào vọng ra liền đẩy cửa bước vào trong.

Porthos đang nằm dài trên giường, mải mê chơi ván bài lansquenet với Mousqueton cốt để giữ cho đôi tay khỏi lạnh cóng. Gần đó, một xiên đầy chim trĩ béo ngậy đang quay tĩu tịt trước ngọn lửa rực hồng. Hai bên lò sưởi lớn, trên hai bếp than đỏ rực, hai chiếc xoong đang sôi sùng sục, tỏa ra mùi thơm nức mũi của món thịt thỏ và cá hầm, quyến rũ đến mức chỉ ngửi thôi cũng thấy ấm lòng. Đảo mắt quanh phòng, D'Artagnan còn nhận ra nóc tủ quần áo và mặt đá cẩm thạch của chiếc tủ ngăn kéo chật ních những vỏ chai rượu rỗng không.

Vừa thoáng thấy bóng bạn, Porthos reo lên một tiếng vui mừng rạng rỡ. Mousqueton cung kính đứng dậy nhường chỗ cho chàng, rồi cẩn mẫn quay ra chằm chặp canh chừng hai chiếc xoong hầm - nhiệm vụ tối quan trọng mà y có vẻ như vừa được đặc cách giao phó.

"Ái chà, lạy Chúa! Cậu đấy ư?" Porthos cất tiếng chào. "Cậu đến thật đúng lúc. Cậu thông cảm vì tôi không ra đón được nhé; nhưng," anh nói thêm, khẽ liếc nhìn D'Artagnan với vẻ e dè, "chắc cậu đã nghe chuyện xảy ra với tôi rồi chứ?"

"Chưa hề."

"Lão chủ quán chưa bép xép gì với cậu sao?"

"Tôi chỉ hỏi thăm phòng anh rồi chạy tót lên đây ngay lập tức."

Nghe vậy, Porthos dường như thở phào nhẹ nhõm.

"Thế rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra với anh vậy, Porthos thân mến?" D'Artagnan gặng hỏi.

"À thì, lúc tôi đang mải miết giao đấu, đâm trúng gã kia ba nhát, và đúng lúc định tung đòn kết liễu thứ tư thì lại dẫm phải một hòn đá oái oăm. Tôi trượt chân, thế là bong gân đầu gối."

"Thật sao?"

"Lấy danh dự ra mà thề! Gã khốn đó số còn lớn chán, chứ không tôi dám chắc đã đoạt mạng hắn ngay tại trận rồi."

"Thế gã đó hiện giờ ra sao?"

"Ôi, ai mà biết; bị thương như thế là quá đủ để hắn chuồn êm, chẳng dại gì mà nấn ná đợi đòn. Thế còn cậu thì sao, D'Artagnan thân mến, cậu gặp chuyện gì?"

"Thành ra cái đầu gối bong gân chết tiệt này," D'Artagnan chép miệng, "đã chôn chân anh trên giường sao, Porthos?"

"Lạy Chúa, chỉ có thế thôi. Văm ba bữa nữa là tôi lại bay nhảy được ngay."

"Sao anh không thuê người đưa về Paris? Nằm mãi ở đây chắc hẳn chán chết mất."

"Tôi cũng định thế; nhưng, cậu bạn thân mến ạ, tôi phải thú thực với cậu một chuyện."

"Chuyện gì cơ?"

"Chẳng là tôi buồn chán quá, y như cậu nói đấy, sẵn tiện trong túi rủng rỉnh bảy mươi lăm đồng pistole cậu chia cho bữa trước, tôi bèn rủ một gã quý tộc đi ngang qua lên phòng làm một ván súc sắc giải khuây. Hắn nhận lời thách đấu, và rồi lạy Chúa tôi, toàn bộ bảy mươi lăm đồng pistole đã không cánh mà bay sang túi hắn, đó là chưa kể con ngựa của tôi cũng đội nón ra đi nốt trong ván bài oan nghiệt ấy. Nhưng còn cậu thì sao, D'Artagnan thân mến?"

"Anh còn mong đợi gì hơn nữa, Porthos; người ta đâu thể vơ hết may mắn ở đời vào mình được," D'Artagnan cười xòa. "Anh biết câu 'Đen tình đỏ bạc' mà. Tình trường anh rực rỡ thế kia thì tránh sao khỏi sòng bài ngoảnh mặt. Mà vận đen vặt vãnh này thì thấm tháp gì với anh cơ chứ? Chẳng phải gã vô lại hạnh phúc là anh đây đang sở hữu một vị nữ công tước sao? Chắc chắn bà ấy sẽ chẳng tiếc gì mà không cứu trợ anh ngay."

"Chà, cậu thấy đấy, D'Artagnan," Porthos đáp lại bằng vẻ bất cần đời quen thuộc, "tôi quả là xui xẻo. Tôi đã viết thư xin bà ấy năm mươi đồng louis6, số tiền tôi đang cần gấp để lo liệu vụ tai nạn này."

"Rồi sao nữa?"

"Chà, có lẽ bà ấy đang bận bịu ở dinh thự nông thôn nên chưa thấy hồi âm."

"Vậy sao?"

"Chưa thấy tăm hơi đâu; thành ra hôm qua tôi phải gửi thêm một bức thư nữa, khẩn thiết hơn bức trước nhiều. Nhưng bỏ qua chuyện đó đi, cậu đã bình an đứng đây rồi thì chúng ta cứ nói chuyện của cậu trước. Cậu làm tôi lo sốt vó lên được đấy."

"Nhưng lão chủ quán coi bộ đối đãi với anh hậu hĩnh ra phết đấy chứ, Porthos," D'Artagnan khéo léo lái sự chú ý của anh bạn ốm yếu sang những chiếc xoong đầy ắp đồ ăn và lũ vỏ chai ngổn ngang.

"Cũng tàm tạm," Porthos nhún vai. "Chỉ có điều dăm ba hôm trước, tên xấc xược ấy dám chìa hóa đơn ra đòi tiền, thế là tôi đành tống cổ cả hắn lẫn mớ giấy tờ lằng nhằng ra khỏi phòng. Kể từ đấy, tôi cắm chốt tại đây y như một kẻ chinh phục bảo vệ thành trì chiến lợi phẩm của mình. Thành ra cậu thấy đấy, lúc nào cũng nơm nớp lo bị đánh úp nên tôi đành phải trang bị vũ khí tận răng."

"Dẫu vậy," D'Artagnan cười phá lên, đưa tay chỉ vào đống chai lọ và nồi niêu, "tôi cá là thỉnh thoảng anh vẫn phải xuất kích kiếm chác chứ."

"Tiếc là không phải tôi!" Porthos than thở. "Cái đầu gối chết tiệt này cứ giữ rịt tôi trên giường. Mọi chuyện kiếm mồi và gom góp nhu yếu phẩm đều do một tay Mousqueton lo liệu cả. Anh bạn Mousqueton này, có thêm quân tiếp viện rồi đấy, chúng ta phải tăng cường nguồn lương thảo thôi."

"Mousqueton," D'Artagnan quay sang cất lời, "anh phải giúp ta một việc."

"Việc gì vậy, thưa ngài?"

"Anh hãy truyền lại vài tuyệt chiêu cho Planchet nhé. Biết đâu có ngày tới lượt ta bị vây hãm, và ta sẽ vô cùng biết ơn nếu anh ta cũng tháo vát lo liệu cho ta được như cách anh đang phụng sự chủ nhân mình."

"Trời ơi, thưa ngài! Chuyện đó dễ như trở bàn tay," Mousqueton khiêm tốn đáp. "Chỉ cần nhanh nhạy một chút là ổn thỏa hết. Tôi xuất thân từ đồng quê, cha tôi những lúc nhàn rỗi cũng thường hành nghề săn trộm."

"Thế thời gian còn lại thì ông ấy làm gì?"

"Thưa ngài, ông ấy làm một nghề mà tôi vẫn luôn tự hào là vô cùng béo bở."

"Nghề gì cơ?"

"Hồi ấy chiến tranh tôn giáo nổ ra liên miên. Thấy người Công giáo và quân Huguenot7 chém giết lẫn nhau không thương tiếc - tất thảy đều nhân danh đức tin - cha tôi bèn nảy ra sáng kiến dung hòa cả hai tín ngưỡng, lúc thì hóa thân thành tín đồ Công giáo, khi lại sắm vai người Huguenot. Cứ thế, ông vác khẩu súng săn lởn vởn quanh các bụi rậm ven đường. Hễ thấy một giáo dân Công giáo lủi thủi đi một mình, tinh thần Tin Lành trong ông liền trỗi dậy mạnh mẽ. Ông chĩa thẳng nòng súng vào người lữ hành, rồi khi hai bên chỉ còn cách nhau độ chục bước chân, ông bắt đầu buông lời hỏi han. Cuộc đàm đạo ấy hiếm khi kết thúc mà nạn nhân không phải dốc sạch hầu bao để đổi lấy mạng sống. Trái lại, nếu mục tiêu là một gã Huguenot, lòng nhiệt thành Công giáo lại sục sôi trong huyết quản ông đến mức ông cũng chẳng hiểu nổi sao mười lăm phút trước mình lại mảy may nghi ngờ sự siêu việt của đức tin thánh thiện ấy. Về phần tôi, thưa ngài, tôi là một tín đồ Công giáo chính hiệu; bởi lẽ cha tôi, vốn luôn trung thành với lý tưởng của mình, đã quyết định nhào nặn anh trai tôi thành người Huguenot."

"Thế kết cục của nhân vật đáng kính ấy ra sao?" D'Artagnan hỏi.

"Ôi, kết cục xui xẻo nhất trần đời, thưa ngài. Một ngày nọ, trên đoạn đường vắng teo, ông bị phục kích bởi một gã Huguenot và một gã Công giáo. Oái oăm thay, cả hai gã này đều từng là nạn nhân bị ông cướp bóc. Chúng nhận ra ông, thế là bắt tay nhau treo cổ cha tôi lên một cành cây. Ác ôn hơn, chúng còn kéo đến quán rượu ở ngôi làng bên cạnh - nơi tôi và anh trai đang mải mê chè chén - để bô bô khoe khoang về chiến tích lẫy lừng của mình."

"Thế anh em anh xử lý chuyện đó ra sao?" D'Artagnan tò mò.

"Chúng tôi cứ điềm nhiên ngồi nghe chúng kể lể cho đã đời," Mousqueton kể nốt. "Sau đó, lúc chúng rời khỏi quán rồi tản ra hai ngả, anh trai tôi bèn phục kích trên lối đi của gã Công giáo, còn tôi chặn đường gã Huguenot. Chỉ hai giờ sau, mọi ân oán đều được thanh toán sòng phẳng; chúng tôi đã tiễn cả hai gã đó chầu trời, trong lòng thầm bái phục sự lo xa của người cha quá cố, người đã tính toán chu toàn khi nuôi dạy anh em tôi dưới hai màu áo tôn giáo khác biệt."

"Chà, ta phải ngả mũ công nhận, đúng như anh nói, cha anh quả là một bậc kỳ tài. Vậy ra, trong những lúc rảnh rỗi, quý ngài đáng kính ấy còn kiêm luôn cả nghề săn trộm sao?"

"Vâng, thưa ngài, chính tay ông đã truyền dạy cho tôi các ngón nghề đặt bẫy và giăng câu. Cho nên, khi thấy suất ăn kham khổ dành cho giới cần lao chẳng hề lọt nổi hai cái dạ dày kén chọn của chúng tôi, tôi đành phải mang ngón nghề gia truyền ra áp dụng. Lúc lượn lờ dạo bước ven khu rừng của ngài Hoàng tử, tôi tiện tay gài vài cái bẫy dọc các lối mòn; còn lúc ngả lưng trốn nắng bên bờ hồ của Điện hạ, tôi thả tọt vài đường câu xuống ao cá. Thế là, tạ ơn Chúa, như ngài tận mắt thấy đấy, chúng tôi chẳng bao giờ thiếu từ gà gô, thỏ rừng, cá chép đến cả lươn - toàn những món dễ tiêu, bổ dưỡng, vô cùng lý tưởng cho người ốm."

"Vậy còn rượu," D'Artagnan dò hỏi, "ai tài trợ rượu đây? Lão chủ quán của anh ư?"

"Nói thế thì nửa đúng nửa sai."

"Nửa đúng nửa sai là sao?"

"Chính lão cung cấp rượu, không chệch đi đâu được, ngặt nỗi lão lại chẳng hay biết mình đang được hưởng cái vinh hạnh ấy."

"Thử giải thích rõ hơn xem nào, Mousqueton; cuộc trò chuyện với anh quả thực chứa đầy kiến thức bổ ích đấy."

"Sự tình là thế này, thưa ngài. Chẳng là trong một lần chu du, tôi tình cờ chạm trán một vị khách người Tây Ban Nha. Vị này đã ngao du sơn thủy khắp chốn, đặt chân đến vô số quốc gia, trong đó có cả Tân Thế Giới8."

"Tân Thế Giới thì ăn nhập gì với mớ chai lọ lỉnh kỉnh trên tủ quần áo kia?"

"Ngài cứ bình tĩnh, mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đấy cả. Vị khách người Tây Ban Nha ấy có một gã hầu đi theo tới tận Mexico. Gã hầu đó lại vô tình là đồng hương của tôi; hai người chúng tôi lập tức kết thân nhờ chia sẻ hàng tá sở thích chung. Cả tôi và gã đều mê mệt thú đi săn hơn bất cứ thứ gì trên đời; thế là hắn thao thao bất tuyệt kể cho tôi nghe cách những người dân bản địa trên bình nguyên Pampas9 bủa vây hổ và bò rừng chỉ bằng những chiếc thòng lọng thô sơ. Họ có thể ném thòng lọng xa tới hai mươi, thậm chí ba mươi bước chân với độ chính xác vô song. Ban đầu tôi còn bán tín bán nghi, nhưng khi tận mắt chứng kiến màn thị phạm, tôi buộc phải tâm phục khẩu phục. Anh bạn tôi đặt một cái chai cách xa ba mươi bước, và ở mỗi lần ném, hắn đều tròng gọn cổ chai bằng thòng lọng. Nhờ có chút năng khiếu bẩm sinh, tôi cũng hăng hái luyện tập trò này, và giờ thì tài ném thòng lọng của tôi tự tin sánh ngang với bất kỳ ai trên thế giới. Ngài hiểu rồi chứ, thưa ngài? Lão chủ quán của chúng ta có một hầm vang thượng hạng, lúc nào lão cũng khư khư chùm chìa khóa bên mình; chỉ có điều, cái hầm rượu ấy lại lòi ra một lỗ thông gió. Thông qua lỗ hổng đó, tôi thả thòng lọng xuống, và nhờ nắm rõ mười mươi chỗ nào trong hầm cất giữ những chai rượu ngon nhất, hầm rượu vô hình trung biến thành khu bảo tồn săn bắn của riêng tôi. Giờ ngài đã thấy Tân Thế Giới liên quan mật thiết thế nào đến đống vỏ chai trên chiếc tủ kia chưa? Nào, ngài có muốn nhấp thử một ngụm rượu của chúng tôi không, và xin hãy cứ cho đánh giá một cách công tâm nhất?"

"Cảm ơn anh, anh bạn, đa tạ ý tốt; chỉ tiếc là ta vừa mới ních no nê bữa sáng rồi."

"Chà," Porthos lên tiếng, "bày biện lại bàn ăn đi, Mousqueton. Và trong lúc chúng ta tận hưởng bữa sáng, D'Artagnan sẽ kể ngọn ngành xem cậu ấy đã làm gì trong mười ngày đằng đẵng kể từ lúc chia tay chúng ta."

"Rất sẵn lòng," D'Artagnan đáp lời.

Trong khi Porthos và Mousqueton xì xụp thưởng thức bữa sáng - với cảm giác thèm ăn mãnh liệt của những kẻ đang hồi phục thể lực, hòa cùng tình huynh đệ gắn bó keo sơn giữa những người chung lưng đấu cật trong hoạn nạn - D'Artagnan bắt đầu thuật lại mọi chuyện. Chàng kể việc Aramis bị thương nên đành nằm lại Crèvecœur, việc chàng buộc lòng phải bỏ mặc Athos ở Amiens vật lộn với bốn gã dám vu khống anh là kẻ làm tiền giả, và làm cách nào bản thân chàng phải đoạt mạng Bá tước de Wardes để mở đường máu tới nước Anh.

Dù thân thiết, D'Artagnan vẫn giữ lại những bí mật cốt lõi. Chàng chỉ tiết lộ thêm rằng trên đường từ Vương quốc Anh trở về, chàng đã mang theo bốn con chiến mã tuyệt đẹp - một cho bản thân, và ba con còn lại chia đều cho các bạn. Chàng vui vẻ thông báo cho Porthos biết con ngựa dành cho anh hiện đã được thu xếp chu đáo trong chuồng của quán trọ.

Đúng lúc câu chuyện vãn hồi, Planchet bước vào, báo cáo với chủ nhân rằng lũ ngựa đã được nghỉ ngơi lấy lại sức, nếu khởi hành ngay họ vẫn kịp tới ngủ đêm tại Clermont.

Nhận thấy Porthos đã khá an toàn, cộng thêm lòng nóng như lửa đốt muốn nắm bắt tình hình của hai người bạn còn lại, D'Artagnan bèn chìa tay từ biệt người bạn thương binh, nói rõ ý định tiếp tục lên đường tìm kiếm họ. Về phần Porthos, vì dự định sẽ quay lại theo tuyến đường cũ trong vòng bảy, tám ngày tới, D'Artagnan hứa nếu anh vẫn cắm chốt tại quán Great St. Martin này, chàng sẽ tiện đường tạt qua đón anh luôn.

Porthos thở dài đáp lại rằng cái mắt cá chân dở chứng này e là chưa cho phép anh nhúc nhích đi đâu được. Thêm vào đó, anh vẫn phải nằm vùng ở Chantilly chờ thư hồi âm của vị nữ công tước.

D'Artagnan chân thành chúc anh bạn sớm nhận được tin vui; rồi sau khi một lần nữa cẩn thận dặn dò Mousqueton chăm sóc chủ nhân cho tốt, chàng xuống nhà thanh toán sòng phẳng hóa đơn với lão chủ quán, rồi cùng Planchet dong ngựa tiếp tục cuộc hành trình, lúc này đã nhẹ gánh bớt một con ngựa dự bị.



  1. Cung điện Hoàng gia tại Paris. Nơi đây từng được gọi là Cung điện Giáo chủ (Palais-Cardinal) do Hồng y Richelieu xây dựng và sau đó dâng tặng lại cho nhà vua. 

  2. Một trò chơi đánh bài ăn tiền rất phổ biến ở châu Âu vào thế kỷ 16 và 17. Tên gọi này bắt nguồn từ tên của những người lính đánh thuê người Đức. 

  3. Chức quan pháp lý thời phong kiến Pháp, đóng vai trò đại diện cho chính quyền hoặc nhà vua để khởi tố tội phạm trong các vụ án. 

  4. Một pháo đài cổ ở thủ đô Paris, sau này được dùng làm trụ sở tòa án và là một trong những nhà tù khét tiếng nhất thời bấy giờ. 

  5. Đồng tiền vàng có nguồn gốc từ Tây Ban Nha, được sử dụng rất phổ biến trong giao thương tại Pháp và khắp châu Âu vào thế kỷ 17. 

  6. Đồng tiền vàng của nước Pháp, được vua Louis XIII bắt đầu phát hành vào năm 1640 và mang tên của chính nhà vua. 

  7. Tên gọi những người theo đạo Tin Lành ở Pháp vào thế kỷ 16 và 17. Họ đã trải qua một thời kỳ dài xung đột đẫm máu với những người theo đạo Công giáo. 

  8. Cụm từ người châu Âu thời xưa dùng để chỉ châu Mỹ (Bắc Mỹ và Nam Mỹ), nhằm phân biệt với 'Cựu Thế Giới' gồm châu Âu, châu Á và châu Phi. 

  9. Vùng đồng cỏ hoang sơ và rộng lớn ở Nam Mỹ (chủ yếu thuộc Argentina ngày nay), nổi tiếng với thiên nhiên hoang dã và những người thợ săn điêu luyện.