Chương XLVIII. CHUYỆN GIA ĐÌNH

Athos là người nghĩ ra cụm từ "chuyện gia đình". Đã là chuyện gia đình thì thoát khỏi ánh mắt soi mói của Giáo chủ; chuyện gia đình chẳng dính dáng đến ai ngoài những người trong cuộc. Người ta có thể đường hoàng lo liệu một chuyện gia đình trước mặt bàn dân thiên hạ. Nhờ thế, Athos mới đẻ ra cái cớ chuyện gia đình.

Aramis đóng góp ý tưởng: những người hầu.

Porthos lo phần phương tiện: viên kim cương.

Riêng D’Artagnan lại chẳng nghĩ ra được gì, dẫu ngày thường cậu vốn là kẻ lắm mưu nhiều kế nhất bọn. Nhưng cũng phải nói cho công bằng, cái tên Milady vừa thốt lên đã đủ làm cậu tê liệt tâm trí.

À không, chúng ta lầm rồi! Cậu đã tìm được người mua viên kim cương của mình.

Bữa điểm tâm tại dinh thự ông de Tréville diễn ra trong bầu không khí vô cùng hân hoan, rộn rã. D’Artagnan khoác lên mình bộ đồng phục ngự lâm quân. Do cậu có vóc dáng khá tương đồng với Aramis, cộng thêm việc nhà xuất bản trả thù lao cho bài thơ của Aramis hậu hĩnh đến mức anh thừa sức sắm sửa mọi thứ gấp đôi, nên anh đã nhượng lại cho cậu bạn một bộ quân phục tươm tất.

D’Artagnan hẳn đã chạm đến tột đỉnh ước ao, nếu như đám mây đen mang tên Milady không liên tục ám ảnh tâm trí cậu ở phía chân trời.

Dùng bữa xong, bốn người hẹn tối nay sẽ tụ họp tại chỗ Athos để chốt lại kế hoạch.

Suốt cả ngày hôm đó, D’Artagnan diện bộ đồng phục mới, kiêu hãnh rảo bước khắp các ngả đường trong khu trại.

Buổi tối, đúng giờ hẹn, bốn người bạn tề tựu. Chỉ còn ba bề bộn cần định đoạt: viết gì cho anh rể của Milady, viết gì cho người phụ nữ khôn ngoan ở Tours, và cử người hầu nào mang thư đi.

Ai nấy đều tiến cử người hầu của mình. Athos ca ngợi sự kín tiếng của Grimaud, kẻ cạy răng cũng chẳng thốt nửa lời nếu chủ nhân chưa cho phép. Porthos vỗ ngực tự hào về sức vóc của Mousqueton, gã khổng lồ đủ sức tẩn nhừ tử bốn gã đàn ông lực lưỡng. Aramis, đặt trọn niềm tin vào sự khéo léo của Bazin, buông một tràng tán tụng hoa mỹ cho ứng viên của mình. Cuối cùng, D’Artagnan gửi gắm toàn bộ hy vọng vào lòng quả cảm của Planchet, không quên nhắc lại cách cậu hầu đã xoay xở tài tình thế nào trong vụ rắc rối ở Boulogne.

Bốn phẩm chất thi nhau tranh ngôi vị chót vót, kéo theo những bài diễn thuyết dài dòng hùng hồn mà chúng tôi xin mạn phép bỏ qua kẻo làm phật lòng độc giả vì quá lê thê.

“Ngặt nỗi,” Athos lên tiếng, “người chúng ta cử đi phải hội đủ cả bốn phẩm chất ấy.”

“Nhưng kiếm đâu ra một người hầu như thế?”

“Đào đâu ra!” Athos thốt lên. “Tôi thừa biết điều đó, thế nên hãy chọn Grimaud.”

“Chọn Mousqueton đi.”

“Chọn Bazin.”

“Chọn Planchet. Planchet vừa gan dạ lại vừa lanh lẹ; thế là chiếm nửa số phẩm chất rồi.”

“Thưa các quý ngài,” Aramis ngắt lời, “vấn đề cốt lõi không phải là đọ xem ai trong số bốn người hầu kín đáo nhất, khỏe nhất, khôn nhất hay dũng cảm nhất; cái chính là phải biết ai mờ mắt vì tiền nhất.”

“Aramis nói rất có lý,” Athos gật gù. “Chúng ta phải tính toán dựa trên thói hư tật xấu của con người, chứ đừng trông cậy vào đức hạnh của họ. Thưa ngài Viện trưởng, anh quả là một nhà đạo đức học lỗi lạc.”

“Chắc chắn rồi,” Aramis tiếp lời, “bởi lẽ chúng ta cần một kẻ phục vụ tận tâm không chỉ để nắm chắc phần thắng, mà quan trọng hơn là để tránh bị lật kèo. Vì lỡ chuyện có bề gì, mạng sống của những người hầu chẳng hề hấn gì, mà chính cái đầu của-”

“Nói nhỏ thôi, Aramis,” Athos nhắc nhở.

“Đấy mới là khôn ngoan-không phải cho đám người hầu,” Aramis lại tiếp, “mà cho người chủ-hay đúng hơn là những người chủ. Liệu những kẻ hầu hạ chúng ta có đủ trung thành để liều mạng vì chúng ta không? Không đời nào.”

“Lạy Chúa,” D’Artagnan quả quyết. “Tôi dám lấy mạng mình ra bảo lãnh cho Planchet.”

“Chà, cậu bạn thân mến, cậu hãy đắp thêm một khoản tiền khấm khá vào lòng trung thành có sẵn của cậu ta đi, và rồi, thay vì bảo lãnh một lần, cậu có thể yên tâm bảo lãnh gấp đôi.”

“Trời đất ơi! Các anh lại sắp bị lừa một vố cho xem,” Athos, vốn dĩ luôn nhìn đời màu hồng nhưng cứ đụng đến lòng người là lại hóa bi quan, lên tiếng. “Vì tiền, chúng sẽ hứa hươu hứa vượn đủ điều, nhưng ra đến đường thì nỗi sợ hãi sẽ làm chùn bước chân. Bị tóm là chúng sẽ bị tra khảo; mà đã bị tra khảo thì có bao nhiêu khai sạch bấy nhiêu. Quỷ tha ma bắt! Chúng ta đâu phải con nít. Muốn đến được nước Anh”-Athos hạ thấp giọng-“phải vượt qua cả nước Pháp, nơi nhan nhản tai mắt và tay sai của Giáo chủ. Lại còn phải xin giấy thông hành để lên tàu; rồi kẻ đi đưa tin phải biết tiếng Anh để hỏi đường đến London. Quả thực, tôi thấy chuyện này khó như lên trời.”

“Đâu có,” D’Artagnan, vốn đang nóng lòng muốn dứt điểm sự việc, thốt lên; “ngược lại, tôi thấy dễ ợt. Chắc chắn là vậy rồi, parbleu, nếu chúng ta viết thư báo cho Huân tước de Winter về những vấn đề trọng đại, về sự tàn nhẫn của Giáo chủ-”

“Nói nhỏ thôi!” Athos ngắt lời.

“-về những mưu mô và bí mật quốc gia,” D’Artagnan tiếp tục, ngoan ngoãn hạ giọng. “Kiểu gì tất cả chúng ta cũng sẽ bị lôi lên bánh xe tra tấn1; nhưng vì Chúa, anh đừng quên, Athos, chính anh đã nói chúng ta chỉ viết cho ngài ấy về một chuyện gia đình cơ mà. Rằng chúng ta chỉ khẩn khoản xin ngài ấy hễ Milady vừa đặt chân đến London, hãy tước ngay khả năng gây họa của ả. Nếu vậy, tôi sẽ viết thư cho ngài ấy, đại khái theo những lời lẽ này.”

“Để xem nào,” Athos nói, bày ra vẻ mặt của một nhà phê bình khắt khe.

Thưa ngài và là người bạn thân mến-”

“À, vâng! Người bạn thân mến đối với một người Anh,” Athos ngắt lời; “mở bài hay gớm! Hoan hô, D’Artagnan! Chỉ nội cái từ ấy thôi cũng đủ để cậu bị phanh thây chứ chả chơi.”

“Chà, có lẽ vậy. Vậy thì, tôi sẽ viết cộc lốc, Thưa ngài.”

“Cậu thậm chí có thể viết, Thưa Huân tước,” Athos, con người luôn câu nệ phép tắc, đáp lại.

Thưa Huân tước, ngài có nhớ bãi chăn thả dê nhỏ ở Luxembourg không?

“Giỏi lắm, Luxembourg! Người ta lại tưởng đây là ám chỉ đến Thái hậu2! Khôn khéo quá cơ,” Athos mỉa mai.

“Vậy thì, chúng ta viết đơn giản thế này, Thưa Huân tước, ngài có nhớ một khu đất rào nhỏ bé nơi ngài đã được tha mạng không?

“D’Artagnan thân mến của tôi ơi, cậu muôn đời chỉ là một tay thư ký tồi tệ. Nơi ngài đã được tha mạng! Xấu hổ làm sao! Thật chẳng đáng mặt nam nhi. Đừng bao giờ khơi gợi một người có lòng tự trọng về những ân huệ kiểu đó. Kể lể ân huệ chẳng khác nào buông lời sỉ nhục.”

“Quỷ thật!” D’Artagnan bực dọc, “anh thật khó chiều. Nếu bức thư mà phải qua tay anh kiểm duyệt, có Chúa chứng giám, tôi xin rút lui khỏi vụ này.”

“Cậu làm vậy là phải. Hãy cứ cầm chắc khẩu súng hỏa mai và thanh kiếm, cậu bạn thân mến ạ. Cậu tỏa sáng với hai thứ vũ khí đó; nhưng còn cây bút, hãy nhường lại cho ngài Viện trưởng. Đó là sân chơi của anh ấy.”

“Đúng, đúng!” Porthos tán đồng; “đưa bút cho Aramis, người chuyên viết luận án bằng tiếng Latinh ấy.”

“Chà, đành vậy,” D’Artagnan thở dài. “Anh thảo bức thư này cho chúng tôi đi, Aramis; nhưng nhân danh Đức Thánh Cha, xin anh viết cho ngắn gọn thôi, vì lát nữa tôi cũng sẽ đến lượt băm vằm bài của anh đấy, tôi báo trước.”

“Tôi không cầu mong gì hơn,” Aramis đáp, với vẻ tự tin ngây thơ mà mọi nhà thơ đều hãnh diện về bản thân; “nhưng hãy để tôi nắm rõ ngọn ngành đã. Tôi nghe loáng thoáng đâu đó rằng cô em dâu này là một ả đàn bà lẳng lơ. Tôi đã tự mình chứng thực điều đó khi nghe lén cuộc trò chuyện của ả với Giáo chủ.”

“Nhỏ giọng thôi! sacré bleu!” Athos rít lên.

“Nhưng,” Aramis tiếp lời, “những chi tiết cụ thể thì tôi mù tịt.”

“Tôi cũng thế,” Porthos hùa theo.

D’Artagnan và Athos nhìn nhau trân trân một lúc lâu trong im lặng. Cuối cùng, sau một hồi cân nhắc cẩn trọng, gương mặt Athos trở nên nhợt nhạt hơn hẳn thường ngày. Anh khẽ gật đầu ra hiệu cho D’Artagnan, ngầm cho phép cậu cất lời.

“Chà, thế này nhé, cậu phải viết thế này,” D’Artagnan lên giọng: “Thưa Huân tước, em dâu của ngài là một người đàn bà ô nhục, ả từng rắp tâm mưu sát ngài hòng chiếm đoạt gia tài; nhưng ả không thể kết hôn với em trai ngài, vì ả đã có chồng ở Pháp, và đã bị-” D’Artagnan nghẹn lời, dường như đang lục lọi từ ngữ, rồi đưa mắt nhìn Athos.

“Bị chồng ruồng bỏ,” Athos điền vào chỗ trống.

“Vì ả đã bị đóng dấu nung đỏ,” D’Artagnan tiếp lời.

“Chà!” Porthos thốt lên. “Không thể nào! Cậu nói gì cơ-ả định giết cả anh rể mình á?”

“Đúng vậy.”

“Ả đã có chồng rồi sao?” Aramis gặng hỏi.

“Đúng vậy.”

“Và gã chồng phát hiện ra ả có một hình hoa bách hợp trên vai ư?” Porthos kêu lên.

“Đúng vậy.”

Ba tiếng đúng vậy này đều phát ra từ miệng Athos, mỗi lúc một thêm não nề.

“Thế ai đã nhìn thấy hình hoa bách hợp ấy?” Aramis dò hỏi.

“D’Artagnan và tôi. Hay đúng hơn, để tuân theo trình tự thời gian, là tôi và D’Artagnan,” Athos đáp lời.

“Và chồng của cái thứ sinh vật gớm ghiếc ấy vẫn còn sống chứ?” Aramis hỏi tiếp.

“Anh ta vẫn còn sống.”

“Anh có hoàn toàn chắc chắn không?”

“Tôi chính là người đó.”

Một sự tĩnh lặng lạnh lẽo bao trùm, mỗi người đều chìm trong những suy tư riêng theo bản tính của mình.

“Lần này,” Athos, người đầu tiên phá vỡ sự im lặng, lên tiếng, “D’Artagnan đã vạch ra cho chúng ta một đường lối tuyệt vời, và bức thư phải được chắp bút ngay tắp lự.”

“Ái chà! Anh nói đúng, Athos,” Aramis gật gù; “nhưng e là hơi hóc búa đây. Bản thân ngài Đại pháp quan chắc cũng phải vò đầu bứt tai không biết xoay xở sao với một bức thư nhường này, ấy thế mà ngài Đại pháp quan lại thảo báo cáo chính thức trơn tru lắm. Mặc kệ đi! Các anh cứ ngồi im, để tôi viết.”

Nói đoạn, Aramis vớ lấy cây bút lông, trầm ngâm giây lát, rồi lả lướt viết độ tám hay mười dòng bằng nét chữ nhỏ nhắn, thanh tú hệt như phụ nữ. Sau đó, bằng một giọng trầm ấm, chậm rãi, tựa hồ như từng câu từng chữ đã được nâng lên đặt xuống kỹ lưỡng, anh đọc:

“Thưa Huân tước, Người viết những dòng ngắn ngủi này đã có vinh dự được giao kiếm với ngài trong khu đất rào nhỏ ở phố d’Enfer. Vì kể từ dạo ấy ngài đã nhiều lần tuyên bố mình là bạn của người đó, nên anh ta cho rằng bổn phận của mình là phải đáp lại chân tình ấy bằng cách gửi đến ngài một thông tin hệ trọng. Ngài đã hai lần suýt mất mạng dưới tay một kẻ thân tín, người mà ngài tin là người thừa kế hợp pháp của mình, bởi ngài đâu biết rằng trước khi lên xe hoa ở Anh, ả đã kịp có chồng ở Pháp. Nhưng lần thứ ba này, tức là ngay lúc này đây, e rằng ngài khó lòng thoát nạn. Người thân của ngài đã rời La Rochelle để sang Anh trong đêm. Hãy coi chừng sự xuất hiện của ả, vì ả đang nung nấu những mưu đồ tày trời. Nếu ngài cần biết chắc chắn ả có khả năng làm những gì, hãy đọc tiểu sử quá khứ của ả trên bờ vai trái.”

“Chà, thế là tuyệt cú mèo rồi,” Athos tán thưởng. “Aramis thân mến của tôi ơi, anh đúng là có ngòi bút của một vị quốc vụ khanh. Huân tước de Winter giờ sẽ phải đề cao cảnh giác nếu nhận được bức thư này; và lỡ như nó có lọt vào tay Giáo chủ, chúng ta cũng chẳng bị vạ lây. Nhưng vì gã người hầu đi đưa thư có thể sẽ qua mặt chúng ta, phỉnh phờ rằng hắn đã đến London trong khi chỉ mới mò đến Châtellerault, chúng ta hãy chỉ đưa cho hắn một nửa số tiền đã hứa kèm theo bức thư, với giao kèo là hắn sẽ nhận nửa còn lại khi mang thư hồi âm về. Cậu có viên kim cương đó không?” Athos hỏi D’Artagnan.

“Tôi có thứ còn tốt hơn thế. Tôi có giá trị thực của nó;” và D’Artagnan quẳng chiếc túi lên bàn. Nghe tiếng vàng lanh lảnh, Aramis sáng mắt lên, còn Porthos thì giật thót. Riêng Athos vẫn giữ vẻ thản nhiên vô sự.

“Có bao nhiêu trong cái túi nhỏ đó vậy?”

“Bảy nghìn livre, toàn là những đồng louis mười hai franc3.”

“Bảy nghìn livre!” Porthos kêu lên. “Cái viên kim cương bé tí teo ấy mà trị giá tới bảy nghìn livre sao?”

“Có vẻ là thế,” Athos nói, “vì chúng đang nằm ịch ra đây rồi. Tôi không nghĩ anh bạn D’Artagnan của chúng ta đã dốc tiền túi để bù thêm vào khoản này.”

"Nhưng thưa các vị, trong tất thảy những chuyện này," D'Artagnan lên tiếng, "chúng ta lại quên khuấy mất Hoàng hậu. Hãy để tâm đôi chút đến sự an nguy của ngài Buckingham thân yêu của bà. Đó là điều tối thiểu chúng ta nợ bà ấy."

"Đúng vậy," Athos đáp lời, "nhưng chuyện đó lại thuộc về phần việc của Aramis."

"Chà," Aramis đỏ mặt đáp, "tôi biết phải viết gì bây giờ?"

"Ồ, chuyện đó thì đơn giản thôi!" Athos nói. "Cậu cứ việc viết bức thư thứ hai cho con người thông minh đang sống ở Tours ấy."

Aramis cầm lại chiếc bút, trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi cẩn thận nắn nót những dòng dưới đây. Viết xong, chàng liền đưa cho các bạn mình xem xét.

"Cô em họ thân mến."

"À há!" Athos thốt lên. "Hóa ra con người thông minh này lại là họ hàng của cậu sao?"

"Em họ ruột thịt đấy."

"Thế thì viết tiếp đi, gửi cho cô em họ của cậu nào!"

Aramis lại hí hoáy viết tiếp:

"EM HỌ THÂN MẾN, Đức ngài Giáo chủ, người được Chúa che chở vì niềm hạnh phúc của nước Pháp và sự khiếp đảm của những kẻ thù trong vương quốc, đang tiến rất gần đến việc đập tan cuộc nổi loạn điên rồ ở La Rochelle. Rất có thể đội quân tiếp viện của hạm đội Anh sẽ chẳng bao giờ ló dạng nơi chân trời này. Anh thậm chí dám cả quyết rằng ngài de Buckingham sẽ bị cản bước khởi hành bởi một biến cố trọng đại nào đó. Đức ngài quả là vị chính trị gia lỗi lạc bậc nhất trong quá khứ, hiện tại và có lẽ là cả ở tương lai. Ngài sẵn sàng dập tắt cả mặt trời nếu vầng thái dương ấy dám làm ngài chướng mắt. Hãy báo ngay những tin tức tốt lành này cho chị của em nhé, em họ thân mến. Anh đã mơ thấy gã người Anh xui xẻo đó phải bỏ mạng. Anh không thể nhớ rõ là do gươm giáo hay thuốc độc; anh chỉ dám chắc một điều, anh đã mơ thấy gã ta chết thẳng cẳng, và em cũng biết những giấc mơ của anh chẳng bao giờ lừa gạt anh bao giờ. Vậy nên, hãy vững tin rằng anh sẽ sớm ngày trở về."

"Tuyệt diệu!" Athos kêu lên. "Cậu quả là ông hoàng của các nhà thơ, Aramis thân mến ạ. Cậu phán cứ như sách Khải Huyền4, mà lại chân thực hệt như sách Phúc Âm5 vậy. Giờ thì chẳng còn việc gì khác ngoài ghi địa chỉ người nhận vào bức thư này thôi."

"Việc đó thì dễ như bỡn," Aramis đáp.

Chàng gấp bức thư lại một cách kiểu cách, cầm bút lên và nắn nót viết:

"Gửi cô Michon, thợ may, Tours."

Ba người bạn nhìn nhau và phá lên cười; họ đã hoàn toàn bị sập bẫy.

"Giờ thì," Aramis tiếp lời, "mong các vị vui lòng hiểu cho, rằng chỉ duy nhất Bazin mới có thể mang bức thư này đến Tours. Em họ tôi không quen biết ai ngoài Bazin, và cũng chẳng đặt niềm tin vào bất cứ ai ngoài hắn ta; kẻ khác nhúng tay vào ắt sẽ làm hỏng bét mọi chuyện. Hơn nữa, Bazin là một kẻ đầy tham vọng và có học thức; hắn đã rành rọt lịch sử, thưa các vị, hắn biết rõ Sixtus Đệ Ngũ6 từng làm nghề chăn lợn trước khi trở thành Giáo hoàng. Vậy nên, vì hắn cũng nuôi chí gia nhập Giáo hội cùng lúc với tôi, hắn không hề tuyệt vọng trước viễn cảnh đến lượt mình cũng được khoác áo Giáo hoàng, hoặc bét ra cũng là một vị Hồng y. Các vị thử nghĩ xem, một kẻ ấp ủ những hoài bão lớn lao nhường ấy sẽ chẳng bao giờ chịu để bản thân bị tóm cổ, hoặc rủi có bị tóm, hắn thà tử vì đạo chứ chẳng đời nào chịu hé răng nửa lời."

"Rất tốt," D'Artagnan tán đồng, "tôi hoàn toàn nhất trí chọn Bazin, nhưng phần tôi, hãy để tôi dùng Planchet. Milady đã từng có lần đuổi cậu ấy ra khỏi nhà, kèm theo vài cú nện bằng gậy cứng để hối thúc bước chân của cậu ta. Thêm vào đó, Planchet lại sở hữu một trí nhớ tuyệt luân; và tôi dám lấy danh dự ra cam đoan rằng, thà vứt bỏ mọi cơ hội báo thù, cậu ấy sẵn sàng chịu đánh đến chết chứ nhất quyết không khai. Nếu những sắp xếp ở Tours là chuyện của anh, Aramis, thì những toan tính ở London lại thuộc thẩm quyền của tôi. Vì vậy, tôi yêu cầu phải chọn Planchet, nhất là vì cậu ấy đã từng kề vai sát cánh cùng tôi đến London, lại còn biết cách buông lời sao cho chuẩn xác: 'London, thưa ngài, xin vui lòng, và chủ nhân của tôi, Huân tước D’Artagnan'. Với ngần ấy ưu điểm, anh có thể kê cao gối ngủ yên rằng cậu ta sẽ tự tìm được đường, cả khi đi lẫn lúc về."

"Trong trường hợp đó," Athos lên tiếng, "Planchet phải được nhận bảy trăm livre cho chiều đi, và bảy trăm livre nữa cho chiều về; còn Bazin, ba trăm livre cho chiều đi, và ba trăm livre cho chiều về-việc đó sẽ ngốn mất hai nghìn, số tiền còn lại là năm nghìn livre. Mỗi người chúng ta sẽ giắt lưng một nghìn livre để tùy nghi sử dụng, và chúng ta sẽ lập một quỹ chung một nghìn livre, giao phó cho ngài Viện trưởng ở đây quản lý, phòng khi có những trường hợp bất trắc hoặc cần chi dùng chung. Các cậu thấy thế nào?"

"Athos thân mến của tôi," Aramis thốt lên, "anh nói cứ y hệt lão tướng Nestor7 vậy, người mà thiên hạ ai cũng biết là bậc hiền triết uyên thâm nhất trong số những người Hy Lạp."

"Vậy thì," Athos chốt lại, "đã thống nhất như thế nhé. Planchet và Bazin sẽ lên đường. Chuyện đâu đã vào đó, tôi cũng chẳng tiếc nuối gì khi giữ lại Grimaud; hắn đã quá quen với nếp sinh hoạt của tôi, mà tôi lại là kẻ khó tính. Vụ náo động ngày hôm qua hẳn đã làm hắn chấn động không ít; thêm chuyến đi bão táp này nữa chắc chắn sẽ khiến hắn hoàn toàn gục ngã mất."

Họ bèn cho gọi Planchet đến, và cặn kẽ dặn dò các chỉ thị. D'Artagnan đã vạch rõ nhiệm vụ cho cậu, thoạt tiên, chàng bày ra trước mắt cậu sức cám định của tiền bạc, tiếp đến là ánh hào quang của danh vọng, và chốt lại bằng sự khốc liệt của những hiểm nguy.

"Tôi sẽ giấu nhẹm bức thư vào lớp vải lót áo khoác," Planchet đáp lời; "và rủi có bị tóm, tôi sẽ nuốt chửng nó luôn."

"Chà, nhưng làm thế thì cậu sẽ chẳng thể nào hoàn thành nhiệm vụ của mình được nữa," D'Artagnan nhắc nhở.

"Tối nay ngài cứ đưa cho tôi một bản sao, ngày mai tôi sẽ nhẩm thuộc lòng nó."

D'Artagnan đưa mắt nhìn các bạn, ánh mắt rạng ngời như muốn nói: "Đấy, tôi đã bảo các anh rồi mà?"

"Bây giờ," chàng tiếp tục, quay sang Planchet, "cậu có tám ngày để diện kiến Huân tước de Winter; cậu có thêm tám ngày để quay trở lại-tổng cộng là mười sáu ngày. Nếu vào ngày thứ mười sáu sau khi khởi hành, đúng tám giờ tối mà cậu không có mặt ở đây, thì cậu sẽ chẳng nhận được một đồng xu cắc bạc nào cả-cho dù lúc đó chỉ mới lố qua tám giờ có năm phút."

"Nếu thế thì, thưa ngài," Planchet rụt rè lên tiếng, "ngài phải sắm cho tôi một chiếc đồng hồ mới được."

"Cầm lấy cái này đi," Athos nói, với vẻ hào phóng hờ hững thường ngày, đoạn chìa chiếc đồng hồ của chính mình cho cậu, "và hãy tỏ ra là một chàng trai ngoan ngoãn. Hãy khắc cốt ghi tâm rằng, nếu cậu lắm lời, nếu cậu ba hoa chích chòe, nếu cậu nhậu nhẹt say xỉn, cậu sẽ phải đem cái đầu của chủ nhân mình ra mà đánh cược, người đã đặt trọn niềm tin vào lòng trung thành của cậu, và là người đã đứng ra bảo lãnh cho cậu. Nhưng cũng đừng quên điều này, nếu chỉ vì lỗi lầm của cậu mà D'Artagnan phải hứng chịu bất kỳ tai họa nào, ta thề sẽ lùng sục ra cậu, dẫu cậu có lẩn trốn ở chân trời góc bể nào đi chăng nữa, cốt chỉ để tự tay mổ phanh bụng cậu ra."

"Ôi, thưa ngài!" Planchet kêu lên, lòng cảm thấy nhục nhã ê chề vì sự hoài nghi đó, và hơn thế nữa, cậu khiếp đảm tột độ trước vẻ mặt lạnh lùng bình thản của người Ngự lâm quân.

"Còn ta," Porthos hầm hè, trợn trừng cặp mắt to tướng thao láo, "hãy nhớ cho kỹ, ta sẽ lột sống da cậu."

"Á, thưa ngài!"

"Và ta nữa," Aramis cất tiếng, bằng chất giọng êm ái, du dương thường lệ, "hãy nhớ lấy, ta sẽ nướng chín cậu trên ngọn lửa liu riu, hệt như một kẻ man rợ mường thú vậy."

"Trời đất ơi, thưa ngài!"

Planchet bật khóc nức nở. Chúng tôi chẳng dám lạm bàn xem những giọt nước mắt ấy tuôn rơi là do nỗi khiếp đảm tột cùng trước những lời đe dọa sặc mùi máu me, hay bởi sự xúc động dâng trào khi chứng kiến bốn người bạn gắn bó keo sơn đến thế.

D'Artagnan nhẹ nhàng nắm lấy tay cậu. "Nghe này, Planchet," chàng ân cần nói, "các ngài đây nặng lời như vậy cũng chỉ vì quá quan tâm đến ta thôi, chứ trong thâm tâm, họ đều rất mực yêu quý cậu đấy."

"Ôi, thưa ngài," Planchet mếu máo đáp, "tôi thề sẽ hoàn thành sứ mệnh hoặc tôi bằng lòng để người ta băm vằm thành trăm mảnh; và dẫu họ có chặt tôi thành từng mảnh vụn, xin ngài hãy tin chắc chắn rằng, sẽ chẳng có mảnh vụn nào chịu hé môi phanh phui nửa lời đâu."

Cả nhóm quyết định Planchet sẽ khởi hành vào lúc tám giờ sáng ngày hôm sau, để như cậu đã giao hẹn, cậu có dư dả thời gian ngậm ngùi học thuộc lòng bức thư trong đêm. Nhờ cam kết này mà cậu tranh thủ thêm được đúng mười hai giờ đồng hồ; cậu có nghĩa vụ phải trình diện vào ngày thứ mười sáu, trước lúc tám giờ tối.

Sáng hôm sau, khi Planchet đang chuẩn bị lên ngựa, D'Artagnan, người ở tận sâu thẳm cõi lòng vẫn luôn ôm ấp một sự thiên vị nhất định dành cho vị công tước, liền kéo Planchet ra một góc vắng.

"Nghe cho kỹ đây," chàng dặn dò người hầu. "Khi cậu tận tay trao bức thư cho Huân tước de Winter và ngài ấy đã đọc xong xuôi, cậu phải ghé tai nói thêm với ngài ấy những lời này: 'Hãy cắt cử người canh chừng cẩn mật cho Đức ngài Buckingham, vì có kẻ đang âm mưu ám sát ngài ấy'. Nhưng chuyện này, Planchet à, nó hệ trọng và khẩn cấp đến mức ta chẳng hề hé nửa lời với những người bạn của mình rằng ta sẽ giao phó bí mật tày đình này cho cậu; và dẫu người ta có đem chức đại úy ra để đánh đổi, ta cũng tuyệt đối không đời nào chịu viết nó ra giấy đâu."

"Ngài cứ kê cao gối mà ngủ, thưa ngài," Planchet quả quyết, "ngài sẽ sớm thấy ngài hoàn toàn có thể đặt trọn vẹn niềm tin nơi tôi."

Ngự trên lưng một con tuấn mã xuất sắc, con ngựa mà cậu sẽ buộc phải bỏ lại ở cuối chặng đường hai mươi dặm để kịp bắt trạm bưu tá, Planchet phi nước đại lao đi, tinh thần tuy có phần chùng xuống đôi chút bởi ba lời đe dọa kinh hồn bạt vía của các chàng Ngự lâm quân dành cho cậu, nhưng xét về mọi mặt khác, cõi lòng cậu vẫn nhẹ nhõm và thanh thản hết mức có thể.

Bazin cũng khăn gói lên đường thẳng tiến đến Tours vào ngày hôm sau, và được cấp trọn vẹn tám ngày để hoàn thành sứ mệnh của mình.

Trong thời gian chờ đợi hai người vắng mặt, đúng như người ta có thể hình dung, bốn người bạn luôn trong tình trạng mắt sắc như dao, mũi thính như chó săn, và tai lúc nào cũng vểnh lên nghe ngóng. Ngày ngày, họ dồn hết tâm trí vào việc dò la mọi lời đồn đại, theo dõi sát sao động tĩnh của Giáo chủ, và để mắt tới mọi phái viên qua lại. Đã hơn một lần, một cơn ớn lạnh vô cớ chạy dọc sống lưng khi họ bất thần bị gọi đi nhận nhiệm vụ. Hơn thế nữa, họ còn phải thường trực lo cho sự an toàn của chính mình; Milady giống như một bóng ma, hễ đã hiện hình trước mắt ai thì kẻ đó chẳng mong gì có được một giấc ngủ yên.

Vào sáng ngày thứ tám, Bazin, với vẻ rạng rỡ thường nhật và nụ cười quen thuộc trên môi, bước vào quán Parpaillot khi bốn người bạn đang ăn sáng. Theo đúng ám hiệu đã định, y cất lời: "Thưa ngài Aramis, có thư hồi âm từ em họ của ngài."

Bốn người bạn trao nhau ánh mắt ngập tràn hoan hỉ; vậy là một nửa gánh nặng đã được trút bỏ. Tuy nhiên, sự thực là họ mới chỉ vượt qua phần việc ngắn ngủi và dễ thở nhất.

Bất chấp mọi nỗ lực kìm nén, đôi gò má Aramis vẫn ửng đỏ khi anh đỡ lấy bức thư, lướt nhìn những dòng chữ to, thô kệch và sai lỗi chính tả be bét.

"Lạy Chúa!" anh bật cười thốt lên, "tôi hoàn toàn hết hy vọng với cô em Michon tội nghiệp của mình rồi; con bé sẽ chẳng bao giờ hành văn được như ngài de Voiture8 đâu."

"Anh cúa ý ghì ghi nói em tọi nghiệp Michon?" gã lính Thụy Sĩ, kẻ đang đứng tán dóc với họ lúc bức thư được mang tới, lên tiếng.

"Ồ, pardieu, chẳng có ý gì đâu," Aramis đáp; "chỉ là một cô thợ may nhỏ nhắn, duyên dáng mà tôi đem lòng nhung nhớ, nên đã xin vài dòng đích thân cô ấy viết để làm kỷ vật thôi."

"Guỷ dật!" gã lính Thụy Sĩ nói, "nghiếu bô đờ là muột đạng gái gia nớn như trữ việt, ad quẻ ni nà mọt cáu măn nắm đớ, đùn ghí!"

Aramis đọc xong bức thư liền chuyển sang cho Athos.

"Xem cô ấy viết gì cho tôi này, Athos," anh nói.

Athos liếc qua, rồi cất giọng đọc to để đánh tan mọi mối nghi ngờ có thể nảy sinh:

"ANH HỌ CỦA EM, Anh và em đều rành rẽ việc giải mộng, và thậm chí còn rất sợ chúng; nhưng về phần giấc mơ của anh thì em có thể nói, ít nhất là em mong vậy, rằng mọi giấc mơ đều chỉ là ảo ảnh. Tạm biệt! Anh hãy tự chăm lo cho bản thân, và hãy hành động sao cho thỉnh thoảng em lại được nghe người ta nhắc đến anh. MARIE MICHON"

"Và cô ấy có ý nói về giấc mơ nào vậy?" gã lính long kỵ binh, nãy giờ đã xán lại gần để nghe ngóng, lên tiếng hỏi.

"Buẩn đật; giếc rơ rà rí?" người lính Thụy Sĩ hùa theo.

"Chà, pardieu!" Aramis tỉnh bơ, "có gì đâu: tôi mơ một giấc mơ, và tôi đã kể lại cho cô ấy nghe."

"Buẩn, buẩn," người lính Thụy Sĩ nói; "gể gại mọt giếc rơ gễ rôi, chưng đơi cã bao giờ rơ."

"Anh thật may mắn," Athos nói rồi đứng dậy; "tôi ước gì mình cũng được như thế!"

"Cã bao giờ," gã lính Thụy Sĩ đáp, đắc chí ra mặt vì một người oai phong như Athos lại có thể ghen tị với mình. "Cã bao giờ, cã bao giờ!"

Thấy Athos đứng dậy, D'Artagnan cũng làm theo, khoác tay anh và bước ra ngoài.

Porthos và Aramis nán lại để dẹp yên những lời tọc mạch của gã kỵ binh và gã lính Thụy Sĩ.

Còn phần Bazin, y sải bước đến nằm ườn lên một đống rơm; và bởi có trí tưởng tượng bay bổng hơn gã Thụy Sĩ kia, y mơ thấy Aramis, sau khi đăng cơ làm Giáo hoàng, đã tự tay đội lên đầu y chiếc mũ Hồng y đỏ thắm.

Tuy nhiên, như đã nói, sự trở về êm thấm của Bazin mới chỉ gỡ bỏ được phần nào hòn đá tảng đang đè nặng lên tâm trí bốn người bạn. Những ngày mòn mỏi ngóng trông trôi qua dài lê thê; với riêng D'Artagnan, cậu dám cá rằng mỗi ngày phải dài đến bốn mươi bốn tiếng. Cậu hoàn toàn gạt đi những trở ngại hiển nhiên của việc lênh đênh trên biển, mà tự thổi phồng quyền lực của Milady lên mức đáng sợ. Trong mắt cậu, người đàn bà mang dấp dáng ác quỷ ấy hẳn phải sai khiến những thế lực tay sai siêu nhiên không kém gì ả; chỉ một tiếng động khẽ khàng cũng đủ làm cậu hoang tưởng rằng mình sắp bị tóm cổ, và Planchet đang bị áp giải về để đối chất với bốn người. Tệ hơn nữa, niềm tin từng sâu như rễ bám vào gã trai xứ Picard thật thà nay lại hao mòn theo từng canh giờ. Nỗi bất an ấy lớn dần đến độ lây lan sang cả Aramis và Porthos. Chỉ có Athos là vẫn điềm nhiên như không, tựa hồ chẳng có lưỡi gươm hiểm nguy nào đang treo lơ lửng trên đỉnh đầu, thản nhiên hít thở bầu không khí thường nhật của mình.

Đặc biệt đến ngày thứ mười sáu, cơn cồn cào ở D'Artagnan và hai người bạn bùng lên dữ dội tới mức họ chẳng thể ngồi yên lấy nửa khắc, cứ thẩn thơ như những bóng ma dọc theo con đường mòn ngóng đợi bóng dáng Planchet.

"Thật tình," Athos khuyên can, "các cậu hành xử chẳng ra dáng đàn ông chút nào, cứ như lũ trẻ con bị một người đàn bà dọa cho mất mật! Rốt cuộc thì chuyện đó có gì to tát chứ? Bị tống giam ư. Chà, rồi chúng ta sẽ được cứu ra thôi; chẳng phải phu nhân Bonacieux đã được giải thoát đó sao. Bị chặt đầu ư? Thử nghĩ mà xem, mỗi ngày trong chiến hào, chúng ta vẫn hớn hở phơi mình trước những tai ương còn tồi tệ hơn thế nhiều-một viên đạn có thể nghiền nát một bên chân, và tôi dám chắc lưỡi cưa của một gã phẫu thuật gia khi cắt cụt chiếc đùi còn đớn đau gấp vạn lần nhát chém rụng đầu của tên đao phủ. Vậy nên, hãy bình tâm mà chờ đợi; hai giờ nữa, bốn giờ nữa, hoặc chậm nhất là sáu giờ nữa, Planchet sẽ lù lù xuất hiện ở đây. Cậu ta đã hứa, và tôi đặt trọn niềm tin vào Planchet, cậu ta dường như là một chàng trai rất khá."

"Nhưng rủi cậu ấy không đến thì sao?" D'Artagnan bồn chồn.

"Chà, nếu cậu ấy chưa đến, thì đơn giản là cậu ấy bị trễ nải, có vậy thôi. Cậu ấy có thể lỡ ngã ngựa, có thể trượt chân rơi khỏi boong tàu; hay trúng gió độc vì đi ngược chiều gió quá nhanh rồi đổ bệnh nhức đầu sổ mũi. Này, thưa các quý ngài, chúng ta phải tính đến cơ man những tai ương bất trắc chứ! Cuộc đời vốn dĩ là một chuỗi tràng hạt của những xui xẻo vặt vãnh mà bất cứ nhà triết học nào cũng mỉm cười lần giở. Hãy làm những triết gia, như tôi đây này, thưa các ngài; hãy an tọa và cùng cạn ly. Chẳng có gì tô điểm cho tương lai rạng rỡ bằng việc chiêm ngưỡng nó qua lăng kính của một ly rượu chambertin hảo hạng đâu."

"Mọi triết lý đều tuyệt vời," D'Artagnan đáp bực dọc; "nhưng tôi đã chán ngấy cái cảnh cứ mở một chai rượu mới là lại phải nơm nớp lo sợ nó được tuồn ra từ hầm rượu của Milady."

"Cậu đúng là đồ khó chiều," Athos châm chọc; "từ một giai nhân tuyệt sắc đến vậy kia mà!"

"Một người đàn bà khét tiếng thì có!" Porthos phụ họa, kèm theo một tràng cười oang oang.

Athos khẽ giật mình, đưa tay gạt đi những giọt mồ hôi lạnh toát rịn trên trán, và đến lượt anh đứng bật dậy trong một thoáng hoảng hốt không tài nào kìm nén.

Thế rồi, ngày dài cũng lùi dần; bóng tối chậm chạp buông bức màn đen bao phủ, dù muộn màng nhưng cuối cùng cũng buông xuống. Các quán rượu nườm nượp những kẻ chìm trong men say. Athos, sau khi bỏ túi phần tiền bán viên kim cương, hiếm khi cất bước khỏi quán Parpaillot. Anh đã kết giao với ngài de Busigny-người nhân tiện đã chiêu đãi họ một bữa tiệc linh đình-như một bạn bài xứng tầm. Họ đang mải mê sát phạt, như thường lệ, thì chuông đồng hồ điểm bảy giờ; người ta vẳng nghe tiếng bước chân rầm rập của đội tuần tra đi tăng viện cho các trạm gác. Đúng bảy giờ rưỡi, tiếng kèn thu quân dõng dạc vang lên.

"Chúng ta tiêu đời rồi," D'Artagnan rỉ tai Athos.

"Cậu định nói là chúng ta đã thua cháy túi thì có," Athos điềm nhiên đáp, rút bốn đồng pistole từ trong túi ném cạch xuống bàn. "Thôi nào, các quý ngài," anh dõng dạc, "người ta đang đánh trống báo giờ giới nghiêm rồi. Đi ngủ thôi!"

Nói đoạn, Athos bước ra khỏi quán Parpaillot, nối gót là D'Artagnan. Aramis lững thững theo sau, khoác tay Porthos. Aramis miệng lẩm nhẩm những vần thơ dang dở, còn Porthos thi thoảng lại giật phăng một hai sợi ria mép như để trút bỏ sự tuyệt vọng đang kìm nén.

Nhưng bất thình lình, một bóng dáng quá đỗi quen thuộc với D’Artagnan hiện ra trong màn đêm, theo sau là một giọng nói cũng quen thuộc không kém khẽ cất lên:

“Thưa ngài, tôi mang áo choàng đến cho ngài đây; đêm nay trời đã trở rét.”

“Planchet!” D’Artagnan reo lên, mừng quýnh.

“Planchet!” Aramis và Porthos đồng thanh lặp lại.

“Chà, đúng rồi, đích thị là Planchet,” Athos điềm nhiên nói, “có gì mà phải ngạc nhiên đến thế? Cậu ấy đã hứa sẽ trở về trước tám giờ, và đồng hồ thì đang điểm đúng tám giờ. Khá lắm, Planchet, cậu quả là một chàng trai biết giữ lời, và nếu có một ngày cậu rời bỏ chủ mình, ta hứa sẽ dành cho cậu một vị trí để phục vụ ta.”

“Ôi, không, không đời nào,” Planchet đáp, “tôi sẽ chẳng bao giờ rời xa ngài D’Artagnan đâu.”

Cùng lúc đó, D’Artagnan cảm nhận được Planchet vừa lén dúi một mẩu giấy vào tay mình.

Anh cảm thấy một sự thôi thúc mãnh liệt muốn ôm chầm lấy Planchet y như cái ngày anh tiễn cậu lên đường; nhưng anh e sợ rằng việc bộc lộ tình cảm thái quá với một người hầu ngay giữa chốn đường phố thế này sẽ lọt vào mắt những kẻ qua đường như một điều dị hợm, nên đành tự kiềm chế bản thân.

“Tôi có thư rồi,” anh khẽ nói với Athos và hai người bạn.

“Tốt lắm,” Athos nói, “về lều rồi hẵng đọc.”

Mẩu giấy như đang thiêu đốt bàn tay D’Artagnan. Anh nóng lòng muốn rảo bước thật nhanh, nhưng Athos đã nắm lấy tay anh rồi khoác chặt vào cánh tay mình, buộc chàng trai trẻ phải điềm tĩnh sải bước theo đúng nhịp điệu của người bạn.

Cuối cùng, cả bọn cũng về đến lều và thắp lên một ngọn đèn. Trong lúc Planchet đứng gác ngoài cửa phòng hờ bị phục kích, D’Artagnan với đôi bàn tay run rẩy, vội vã bóc niêm phong và mở tung bức thư mà anh đã mòn mỏi ngóng trông.

Bức thư chỉ vỏn vẹn nửa dòng chữ, được viết bằng nét bút mang đậm phong cách Anh, với một sự súc tích tuyệt đối theo kiểu Sparta9:

Cảm ơn; hãy yên tâm.

D’Artagnan dịch lại câu chữ ấy cho các bạn cùng nghe.

Athos cầm lấy bức thư từ tay D’Artagnan, đưa lại gần ngọn đèn rồi châm lửa đốt, anh cứ giữ chặt mẩu giấy như thế cho đến khi nó hoàn toàn hóa thành tro.

Đoạn, anh gọi Planchet và nói: “Bây giờ, chàng trai của ta ơi, cậu có thể nhận lấy bảy trăm livre của mình, nhưng mang một bức thư như thế này thì cậu cũng chẳng phải mạo hiểm nhiều cho lắm nhỉ.”

“Tôi đâu có lỗi khi đã phải tìm trăm phương ngàn kế để thu nhỏ nó lại cơ chứ,” Planchet phân trần.

“Chà!” D’Artagnan thốt lên, “hãy kể cho bọn ta nghe cặn kẽ chuyện đó xem nào.”

Dame, đó là cả một câu chuyện dài đấy, thưa ngài.”

“Cậu nói có lý đấy, Planchet,” Athos lên tiếng; “hơn nữa, kèn giới nghiêm đã gióng lên rồi, và chúng ta sẽ bị dòm ngó nếu cứ để đèn sáng lâu hơn lều của những người khác.”

“Cứ quyết định vậy đi,” D’Artagnan nói. “Đi ngủ thôi, Planchet, và hãy ngủ một giấc thật ngon nhé.”

“Trời đất ơi, thưa ngài! Mười sáu ngày qua, nay mới là lần đầu tiên tôi có được một giấc ngủ ngon đấy.”

“Và tôi cũng vậy!” D’Artagnan nói.

“Và tôi cũng vậy!” Porthos nói.

“Và tôi cũng vậy!” Aramis nói.

“Chà, nói thật lòng thì, tôi cũng vậy!” Athos nói.



  1. Một hình thức cực hình tàn khốc phổ biến ở châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Nạn nhân bị trói vào một bánh xe gỗ lớn và bị đập gãy các xương, thường dùng để trừng phạt những tội phạm nghiêm trọng nhất. 

  2. Nhắc đến bãi chăn thả dê ở Luxembourg bị coi là ám chỉ Thái hậu Marie de' Medici (mẹ vua Louis XIII), bởi vì thời bấy giờ bà đang cư ngụ tại Cung điện Luxembourg ở thủ đô Paris. 

  3. Đồng Louis (Louis d'or) là đồng tiền vàng của Pháp được phát hành dưới thời vua Louis XIII. Từ "franc" và "livre" là đơn vị tiền tệ, một đồng Louis vàng có giá trị quy đổi tương đương 10 đến 12 livre (hoặc franc) tùy thời điểm. 

  4. Cuốn sách cuối cùng trong Tân Ước của Kinh Thánh Cơ Đốc giáo, chứa đựng những hình ảnh tượng trưng phức tạp, bí ẩn và những lời tiên tri về ngày tận thế. 

  5. Bốn cuốn sách đầu tiên của Tân Ước kể về cuộc đời và lời dạy của Chúa Giêsu, được các tín đồ coi là những ghi chép chân thực và chuẩn mực nhất về sự thật. 

  6. Giáo hoàng Sixtus V (1521-1590) xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo. Truyền thuyết dân gian thường phóng đại ông từng là người chăn lợn để nhấn mạnh sự thăng tiến ngoạn mục của ông lên ngôi vị cao nhất của Giáo hội Công giáo. 

  7. Một nhân vật trong sử thi Iliad của thần thoại Hy Lạp. Vua Nestor tuy già nua nhưng nổi tiếng với sự khôn ngoan, tài hùng biện và những lời khuyên sắc sảo cho quân đội Hy Lạp trong cuộc chiến thành Troy. 

  8. Vincent Voiture (1597-1648), một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng của Pháp thế kỷ 17. Ông là thành viên của Viện Hàn lâm Pháp, được biết đến với lối hành văn thanh lịch, hoa mỹ và là chuẩn mực văn chương trong giới quý tộc bấy giờ. 

  9. Sparta là một thành bang ở Hy Lạp cổ đại, nổi tiếng với văn hóa kỷ luật quân sự hà khắc và lối ăn nói ngắn gọn, súc tích, đi thẳng vào vấn đề (còn gọi là lối nói Laconic) thay vì dùng lời lẽ hoa mỹ.