Chương XXXIV. VỀ VIỆC TRANG BỊ CỦA ARAMIS VÀ PORTHOS

Kể từ khi bốn người bạn chia nhau đi lo liệu chuyện trang bị, họ chưa có lấy một buổi họp mặt thường kỳ nào. Ai nấy đều ăn uống riêng rẽ, bạ đâu ăn đấy, hay đúng hơn là có gì bỏ bụng nấy. Những nhiệm vụ khẩn bách cũng ngốn đi không ít quỹ thời gian vốn đang vùn vụt trôi qua. Họ đành giao hẹn mỗi tuần giáp mặt một lần vào tầm một giờ trưa tại nhà Athos, bởi lẽ anh đã thề không bước chân ra khỏi bậu cửa nhà mình.

Ngày gặp gỡ đó tình cờ lại đúng vào hôm Kitty tìm đến d'Artagnan. Ngay khi cô hầu gái vừa rời gót, chàng vội vã sải bước hướng thẳng tới phố Férou.

Chàng thấy Athos và Aramis đang mải mê đàm đạo triết lý. Aramis có vẻ đang nghiêng về ý định khoác lại chiếc áo dòng. Còn Athos, giữ đúng bản tính xưa nay, chẳng hề khuyên can mà cũng chẳng tỏ ý tán thành. Anh luôn tin rằng mỗi người đều có quyền tự do định đoạt đời mình. Chưa bao giờ Athos buông lời khuyên nhủ ai nếu không được cất lời nhờ vả; và thậm chí ngay cả khi được nhờ, anh cũng bắt người ta phải nài nỉ tới lần thứ hai.

"Nói chung ấy mà," anh điềm nhiên bảo, "người đời xin lời khuyên cốt chỉ để làm ngơ; hoặc lỡ có nghe theo, thì cũng chỉ là để kiếm sẵn một kẻ mà đổ lỗi vì đã xúi bẩy mình."

Porthos đến sau d'Artagnan chừng một phút. Thế là bốn người bạn lại tề tựu đông đủ.

Bốn nét mặt phơi bày bốn dòng cảm xúc khác biệt: Porthos thì thản nhiên; d'Artagnan phơi phới hy vọng; Aramis đầy vẻ bất an; trong khi Athos vẫn lạnh lùng thờ ơ.

Sau một màn trò chuyện ngắn ngủi, mà trong đó Porthos cứ lấp lửng úp mở chuyện có một mệnh phụ phu nhân đã hạ mình ra tay gỡ rối cho anh khỏi tình cảnh túng quẫn, thì Mousqueton bước vào. Gã hầu đến tìm chủ nhân, khẩn khoản nài nỉ anh phải lập tức quay về chỗ trọ, bằng một giọng thảm thiết như thể sự hiện diện của anh lúc này là vô cùng cấp bách.

"Có chuyện về trang bị của ta sao?"

"Dạ, vừa đúng lại vừa không đúng ạ," Mousqueton ấp úng.

"Nào, thế ngươi có mau mở miệng ra không hả?"

"Xin ngài cứ đi theo tôi."

Porthos đứng dậy, chào tạm biệt các bạn rồi bước theo Mousqueton. Một thoáng sau, Bazin ló mặt ở cửa.

"Ngươi muốn gì ở ta hỡi anh bạn?" Aramis cất lời, bằng cái giọng điệu êm ái điềm đạm mà người ta vẫn thường thấy mỗi khi tâm trí anh đang hướng về chốn giáo đường.

"Dạ, thưa ngài, có một người đàn ông muốn gặp ngài tại nhà," Bazin đáp.

"Một người đàn ông ư! Kẻ nào cơ?"

"Một gã ăn mày ạ."

"Hãy bố thí cho ông ta, Bazin, và bảo ông ta hãy cầu nguyện cho một kẻ tội lỗi đáng thương."

"Nhưng gã ăn mày này cứ khăng khăng đòi nói chuyện với ngài cho bằng được, lại còn cả quyết rằng ngài sẽ rất vui khi gặp ông ta."

"Ông ta không gửi gắm thông điệp nào cho ta sao?"

"Dạ có ạ. Ông ta bảo, nếu ngài Aramis ngần ngại không chịu ra, thì hãy báo với ngài ấy rằng tôi đến từ Tours."

"Từ Tours ư!" Aramis thốt lên. "Ngàn lần cáo lỗi cùng các bạn; nhưng dám chắc người này mang đến cho tôi tin tức mà tôi hằng mong đợi." Dứt lời, anh đứng phắt dậy rồi rảo bước rời đi. Giờ thì chỉ còn lại mỗi Athos và d'Artagnan.

"Tôi tin là mấy tay này đã lo liệu êm xuôi chuyện của họ rồi. Cậu nghĩ sao, d'Artagnan?" Athos lên tiếng.

"Tôi biết Porthos đang xuôi chèo mát mái," d'Artagnan đáp; "còn Aramis, thú thật với anh, tôi chưa bao giờ phải thực sự bận lòng vì anh ấy. Nhưng còn anh thì sao, Athos thân mến - anh, người đã hào phóng phân phát sạch bách những đồng tiền vàng của gã người Anh, thứ vốn dĩ là chiến lợi phẩm hợp pháp của chúng ta - anh dự tính thế nào?"

"Tôi bằng lòng với việc đã kết liễu được gã đó, cậu bé ạ, bởi vì giết một tên người Anh là một việc làm tốt; chứ nếu tôi đút túi những đồng tiền vàng của hắn, chúng sẽ đè nặng lên lương tâm tôi như một nỗi cắn rứt."

"Thôi đi, Athos thân mến; anh quả thực có những suy nghĩ khác người."

"Cứ gác chuyện đó lại đi. Cậu nghĩ sao về lời ngài de Tréville ban sáng, lúc ngài hạ cố ghé thăm tôi, rằng cậu đang giao du với những kẻ người Anh đầy khả nghi, những kẻ được chính đức Hồng y bảo trợ?"

"Có nghĩa là tôi đang ghé thăm một người phụ nữ gốc Anh - người mà tôi đã từng nói tên với anh."

"À, phải rồi! Cái cô ả xinh đẹp mà tôi đã từng khuyên cậu nên tránh xa, nhưng dĩ nhiên là cậu chẳng thèm lọt tai."

"Tôi đã nói rõ lý do cho anh rồi mà."

"Đúng vậy; cậu đang tìm kiếm trang bị ở nơi đó, tôi nhớ cậu đã bảo thế."

"Hoàn toàn không phải vậy. Tôi đã nắm được nguồn tin chắc chắn rằng người phụ nữ ấy có dính líu đến vụ bắt cóc phu nhân Bonacieux."

"À, giờ thì tôi hiểu rồi: để tìm một người phụ nữ, cậu lại đi tán tỉnh một người đàn bà khác. Đó đúng là con đường vòng vèo nhất, nhưng chắc chắn là thú vị nhất."

D'Artagnan suýt chút nữa đã định dốc bầu tâm sự, kể hết mọi nhẽ cho Athos nghe; thế nhưng một thoáng đắn đo đã kịp níu chàng lại. Athos vốn dĩ là một quý tộc, cực kỳ khắt khe trong những vấn đề danh dự; và dám chắc rằng trong cái kế hoạch mà chàng tình si của chúng ta đã giăng ra để đối phó với Milady, có những góc khuất tuyệt nhiên không thể nhận được cái gật đầu đồng tình từ người đàn ông đậm chất thanh giáo này. Vì lẽ đó, cậu đành nín lặng; và bởi Athos vốn là người ít tò mò nhất thế gian, nên sự giãi bày của d'Artagnan cũng chỉ dừng lại ở đó. Do vậy, chúng ta sẽ để lại hai người bạn ở đây, những người chẳng còn câu chuyện quan trọng nào để nói với nhau nữa, mà hãy cất bước theo chân Aramis.

Vừa nghe tin có người từ Tours đến tìm, chàng trai trẻ lập tức lao đi, bỏ lại cả gã hầu Bazin ở phía sau. Aramis chạy một mạch không ngừng nghỉ từ phố Férou thẳng tới phố de Vaugirard. Khi bước vào phòng, anh bắt gặp một gã đàn ông thấp bé, đôi mắt sắc lẹm lanh lợi, khoác trên mình bộ dạng rách rưới.

"Ông tìm tôi sao?" chàng lính ngự lâm lên tiếng hỏi.

"Tôi muốn hầu chuyện ngài Aramis. Không rõ ngài có phải là vị ấy chăng, thưa ngài?"

"Chính là tôi. Có phải ông mang cho tôi thứ gì không?"

"Đúng vậy, nhưng trước tiên ngài phải cho tôi xem một chiếc khăn tay thêu."

"Nó đây," Aramis đáp. Anh rút ra chiếc chìa khóa nhỏ đeo trước ngực, mở nắp chiếc hộp gỗ mun nạm xà cừ tinh xảo, "Nó đây. Ông xem đi."

"Đúng rồi," gã ăn mày gật đầu, "xin ngài hãy cho gã hầu lui ra."

Thực ra, Bazin vì tò mò muốn biết gã ăn mày kia cần gì ở chủ mình nên đã dốc sức chạy theo và đến nơi gần như cùng lúc. Thế nhưng, sự sốt sắng của hắn lại trở nên thừa thãi. Nghe gã ăn mày đề nghị, Aramis liền ra hiệu cho gã hầu lui gót, và Bazin đành hậm hực tuân lệnh.

Đợi Bazin đi khuất, gã ăn mày phóng tầm mắt lướt nhanh quanh phòng để cam đoan không còn ai dòm ngó hay nghe trộm. Tiếp đó, gã cởi chiếc áo khoác tơi tả vốn chỉ được buộc hờ bằng một sợi dây da. Gã bắt đầu xé toạc phần trên của chiếc áo chẽn, rồi từ trong lớp vải lót rút ra một lá thư.

Vừa nhìn thấy con dấu, Aramis đã reo lên sung sướng. Anh đặt nụ hôn lên dòng địa chỉ với một niềm thành kính thiêng liêng rồi cẩn trọng mở thư. Bức thư viết:

"Người bạn của em, định mệnh buộc chúng ta phải xa cách nhau thêm một thời gian nữa. Nhưng những tháng ngày thanh xuân tươi đẹp của đôi ta sẽ không phai mờ mãi mãi. Anh hãy làm tròn nghĩa vụ của mình trong quân ngũ, còn em sẽ thực hiện bổn phận của em ở một phương trời khác. Hãy nhận lấy những gì người đưa thư trao cho anh. Hãy ra trận như một quý tộc hào hoa đích thực, và xin hãy luôn nhớ về em, người đang âu yếm hôn lên đôi mắt đen láy của anh. Tạm biệt; hay đúng hơn là, hẹn ngày tái ngộ."

Lúc này, gã ăn mày tiếp tục xé toạc lớp áo trong. Từ giữa những mảnh giẻ rách, gã lôi ra một trăm năm mươi đồng vàng kép Tây Ban Nha1 rồi cẩn thận xếp lên bàn. Xong xuôi, gã mở cửa, kính cẩn cúi chào và bước ra ngoài, để mặc chàng lính ngự lâm vẫn còn đang sững sờ ôm bức thư mà chưa kịp thốt lên nửa lời cảm tạ.

Mãi sau, Aramis mới sực tỉnh đọc lại bức thư và chợt nhận ra dòng tái bút:

Tái bút: Anh hãy đối đãi tử tế với người đưa thư, đó là một bá tước và là một quý tộc người Tây Ban Nha!

"Những giấc mộng vàng son!" Aramis thốt lên. "Ôi, cuộc đời mới đẹp làm sao! Phải rồi, chúng ta còn trẻ; đúng thế, chúng ta sẽ vẫn còn những ngày tháng ngập tràn hạnh phúc! Tình yêu của anh, máu thịt của anh, sinh mạng của anh! Tất cả, tất cả, tất cả đều thuộc về em, người tình yêu dấu của anh!"

Nói rồi anh cuồng nhiệt hôn lên bức thư, chẳng buồn liếc mắt lấy một lần đến đống vàng đang lấp lánh trên bàn.

Vừa lúc ấy, Bazin gõ cửa. Vì chẳng còn lý do gì để đuổi gã hầu ra ngoài nữa, Aramis bèn gọi hắn vào.

Nhìn thấy đống vàng sáng chói, Bazin sững sờ đến mức quên khuấy luôn việc thông báo cho d'Artagnan. Chàng ngự lâm trẻ tuổi vì tò mò thân phận gã ăn mày nên đã ghé qua phòng Aramis ngay sau khi rời khỏi nhà Athos.

Vốn chẳng xa lạ khách sáo gì với Aramis, d'Artagnan thấy Bazin ngớ người ra bèn tự mình sải bước vào trong.

"Chết tiệt! Aramis thân mến," d'Artagnan lên tiếng, "nếu đây là những quả mận được chuyển từ Tours đến cho anh, tôi xin nhờ anh gửi gắm lời khen ngợi của tôi tới người làm vườn đã cất công thu hoạch chúng."

"Anh lầm rồi, anh bạn d'Artagnan," Aramis đáp lời, vẻ mặt luôn trực sẵn sự cảnh giác; "đây là tiền từ nhà xuất bản của tôi. Họ vừa gửi tới khoản thù lao cho bài thơ viết theo thể một âm tiết mà tôi đang dở dang sáng tác ở đằng kia."

"À, ra là vậy," d'Artagnan cười. "Chà, nhà xuất bản của anh quả là hào phóng, Aramis thân mến, tôi chỉ có thể bình luận như vậy thôi."

"Sao cơ, thưa ngài?" Bazin thốt lên kinh ngạc, "một bài thơ mà lại bán được giá cao ngất ngưởng đến thế ư! Thật khó tin nổi! Ôi, thưa ngài, ngài hãy cứ viết bao nhiêu tùy thích đi; ngài dư sức sánh ngang với ngài de Voiture và ngài de Benserade2 ấy chứ. Tôi ưng cái nghề này rồi đấy. Một nhà thơ thì cũng cao quý chẳng kém gì một vị cha xứ. Ôi! Ngài Aramis, ngài hãy trở thành nhà thơ đi, tôi khẩn khoản cầu xin ngài đấy."

"Bazin, anh bạn," Aramis nhíu mày, "ta tin là ngươi đang xen ngang vào câu chuyện của ta đấy."

Biết mình lỡ lời, Bazin vội vã cúi chào rồi len lén lui ra.

"Chà!" d'Artagnan mỉm cười trêu chọc, "anh bán các tác phẩm của mình đắt ngang vàng khối vậy. Anh thật tốt phước, bạn của tôi. Nhưng hãy cẩn thận kẻo đánh rơi lá thư đang thò ra khỏi áo chẽn của anh kìa, hẳn là nó cũng được gửi đến từ nhà xuất bản của anh."

Aramis ngượng đỏ bừng mặt, luống cuống nhét vội lá thư vào trong rồi cài chặt lại cúc áo chẽn.

"D'Artagnan thân mến," anh lên tiếng, "nếu anh không phiền, chúng ta sẽ đi tìm những người bạn của mình. Nhân dịp tôi đã rủng rỉnh tiền bạc, hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu mở tiệc ăn tối cùng nhau trở lại, và hy vọng rằng rồi sẽ đến lượt anh cũng rủng rỉnh như thế."

"Thề có Chúa!" d'Artagnan thốt lên với vẻ vô cùng khoái trá. "Đã lâu lắm rồi chúng ta chưa được thưởng thức một bữa tối ra trò. Hơn nữa, tối nay tôi phải dấn thân vào một chuyến đi khá mạo hiểm, nên tôi thú thực là mình sẽ chẳng từ chối nếu được tiếp thêm sinh lực bằng vài ly rượu vang Burgundy3 thượng hạng ủ lâu năm đâu."

"Nhất trí với rượu vang Burgundy lâu năm; tôi chẳng có lý do gì để phản đối điều đó," Aramis hùa theo. Chính bức thư và đống vàng kia đã làm một phép màu, đánh bay mọi ý niệm tu hành ra khỏi tâm trí anh.

Nói đoạn, anh nhón lấy ba bốn đồng vàng kép đút vào túi để chi tiêu cho những nhu cầu trước mắt, rồi gom số vàng còn lại cất vào chiếc hộp gỗ mun nạm xà cừ. Đó cũng là nơi cất giấu chiếc khăn tay nổi tiếng từng được anh nâng niu như một lá bùa hộ mệnh.

Hai người bạn tìm đến nhà Athos. Chàng ngự lâm quân, vốn trung thành với lời thề không bước chân ra khỏi cửa, đã vui vẻ nhận trọng trách đặt bữa tối đem đến cho cả hội. Vốn biết rõ Athos là một người vô cùng tinh tế và sành sỏi về nghệ thuật ẩm thực, d'Artagnan và Aramis hoàn toàn yên tâm giao phó nhiệm vụ quan trọng này cho anh.

Sau đó, hai người cùng đi tìm Porthos. Vừa rẽ vào góc phố Bac, họ tình cờ bắt gặp Mousqueton. Gã hầu mang một bộ dạng não nề, thảm hại tột độ, đang lầm lũi xua một con la và một con ngựa đi phía trước.

D'Artagnan bỗng thốt lên một tiếng kinh ngạc, pha lẫn chút niềm vui sướng khó tả.

"A, con ngựa vàng của tôi!" cậu reo lên. "Aramis, anh nhìn con ngựa kia kìa!"

"Ôi, thật là một con quái thú!" Aramis chun mũi đáp.

"A, anh bạn thân mến," d'Artagnan tủm tỉm cười, "tôi đã cưỡi chính con ngựa đó để đến Paris đấy."

"Cái gì, ngài biết con ngựa này sao?" Mousqueton sửng sốt quay lại.

"Màu lông của nó thật sự quá độc đáo," Aramis nhận xét. "Cả đời tôi chưa từng thấy con ngựa nào có bộ da kỳ lạ như vậy."

"Tôi hoàn toàn tin điều đó," d'Artagnan đáp lời, "và đó cũng chính là lý do tôi bán được nó với giá ba đồng cua-ron4. Chắc hẳn người ta trả tiền vì bộ da, chứ cái xác còm nhom này làm gì đáng giá mười tám livre. Nhưng làm sao con ngựa này lại rơi vào tay ngươi vậy, Mousqueton?"

"Ôi, tôi xin ngài," gã hầu rên rỉ, "xin ngài đừng nhắc đến chuyện đó nữa. Đó quả thực là một trò đùa quái ác của chồng vị nữ công tước của chúng tôi!"

"Chuyện đó là sao, Mousqueton?"

"Chẳng là, chủ nhân của tôi lọt vào mắt xanh của một vị phu nhân đài các, Nữ công tước de... nhưng, xin ngài thứ lỗi, chủ nhân đã ra lệnh cho tôi phải tuyệt đối giữ kín danh tính của bà. Phu nhân muốn ép chúng tôi phải nhận một món quà lưu niệm nhỏ, gồm một con tuấn mã nòi Tây Ban Nha tuyệt đẹp và một con la vùng Andalusia5, trông chúng thật oai vệ. Nào ngờ, người chồng lại đánh hơi được vụ việc này. Trên đường vận chuyển, ông ta đã cho người chặn lại, tịch thu hai con thú tuyệt đẹp kia và tráo bằng những con vật kinh tởm này đây."

"Ngươi đang mang chúng trả lại cho ông ta sao?" d'Artagnan hỏi.

"Chính xác là vậy!" Mousqueton uất ức đáp. "Ngài có thể tin chắc rằng chủ nhân của tôi sẽ không bao giờ hạ mình chấp nhận những con thú rách nát này để thay cho những con vật quý giá đã được hứa tặng."

"Không, thề có Chúa! Dẫu vậy, ta vẫn rất muốn được thấy Porthos cưỡi con ngựa vàng của ta," d'Artagnan bật cười. "Điều đó sẽ cho ta một hình dung rõ nét về bộ dạng của chính mình khi mới đặt chân đến Paris. Nhưng thôi, ta không cản trở ngươi nữa, Mousqueton. Ngươi hãy mau đi thực hiện mệnh lệnh của chủ đi. Ngài ấy có ở nhà không?"

"Dạ có, thưa ngài," Mousqueton thở dài, "nhưng ngài ấy đang vô cùng tức giận. Đi thôi!"

Gã hầu lại lầm lũi xua hai con vật về phía bến Quai des Grands Augustins. Trong khi đó, hai người bạn đi đến rung chuông nhà chàng Porthos tội nghiệp. Thế nhưng, khi nhìn qua cửa sổ thấy họ đi ngang qua sân, Porthos đã cẩn thận im lặng, mặc cho họ bấm chuông mỏi tay mà chẳng có tiếng hồi đáp.

Trong lúc đó, Mousqueton tiếp tục lên đường. Hắn băng qua cây cầu Pont Neuf, đều đặn lùa hai con vật thảm hại đi trước mặt cho đến khi dừng chân tại phố aux Ours. Tới nơi, theo đúng mệnh lệnh của chủ nhân, hắn buộc chặt cả ngựa lẫn la vào vòng gõ cửa nhà viên biện lý. Sau đó, chẳng mảy may bận tâm đến số phận của chúng, hắn quay trở về chỗ Porthos và báo cáo rằng nhiệm vụ đã hoàn tất.

Chẳng bao lâu sau, hai con thú đáng thương, vốn chịu đói từ sáng, bắt đầu hất mõm làm chiếc vòng gõ cửa cứ nâng lên hạ xuống liên hồi. Tiếng ồn ào inh ỏi khiến viên biện lý phải sai cậu bé chạy vặt đi gõ cửa quanh xóm xem con ngựa và con la này là của ai.

Phu nhân Coquenard lập tức nhận ra món quà của mình. Thoạt đầu, bà không tài nào hiểu nổi vì sao chúng lại bị trả về. Thế nhưng, chuyến viếng thăm của Porthos ngay sau đó đã làm mọi chuyện sáng tỏ. Dù anh đã cố gắng kìm nén, ngọn lửa giận dữ rực sáng trong mắt chàng lính ngự lâm vẫn khiến người tình nhạy cảm của anh khiếp sợ. Thực ra, Mousqueton chẳng hề giấu diếm chủ nhân chuyện chạm mặt d'Artagnan và Aramis. Hắn kể rành rọt chuyện d'Artagnan đã nhận ra con ngựa vàng là hình bóng con ngựa cái xứ Béarn mà cậu từng cưỡi đến Paris, sau đó bán đi với giá ba đồng cua-ron rẻ mạt.

Porthos quay lưng bỏ đi, không quên để lại lời hẹn gặp phu nhân biện lý tại hành lang tu viện St. Magloire. Viên biện lý thấy anh sắp rời đi liền đon đả mời ở lại dùng bữa tối. Tuy nhiên, chàng lính ngự lâm đã cất lời từ chối với vẻ uy nghi, lạnh nhạt.

Đúng hẹn, phu nhân Coquenard run rẩy bước đến hành lang tu viện St. Magloire. Bà lờ mờ đoán được những lời trách móc gay gắt đang chờ đợi mình. Dẫu vậy, bà vẫn không khỏi say đắm trước vẻ kiêu ngạo, oai phong của Porthos.

Hễ một người đàn ông bị tổn thương lòng tự kiêu có thể buông ra những lời nguyền rủa và trách mắng cay độc nào lên đầu một người phụ nữ, Porthos đều trút sạch xuống cái đầu đang cúi gằm của phu nhân biện lý.

"Than ôi," bà than vãn, "tôi đã làm mọi thứ tốt nhất có thể! Chẳng là, một trong những khách hàng của chúng tôi vốn là kẻ buôn ngựa. Ông ta nợ tiền văn phòng nhưng lại chây ì thanh toán. Thế nên tôi mới bắt con la và con ngựa để trừ nợ. Ông ta còn cam đoan với tôi rằng chúng đều là những chiến mã cao quý."

"Chà, thưa bà," Porthos lạnh lùng đáp, "nếu ông ta nợ bà nhiều hơn năm đồng cua-ron, thì tên buôn ngựa của bà đích thị là một kẻ ăn cướp."

"Cố gắng mua được đồ rẻ thì có hại gì đâu, thưa ngài Porthos," phu nhân biện lý nài nỉ, cố gắng thanh minh cho bản thân.

"Không hề, thưa bà. Nhưng những ai cứ mải mê săn tìm đồ rẻ thì nên để người khác rảnh rang đi tìm những người bạn hào phóng hơn." Nói đoạn, Porthos quay gót, lùi lại một bước định bỏ đi.

"Ngài Porthos! Ngài Porthos!" phu nhân biện lý hốt hoảng kêu lên. "Tôi sai rồi, tôi nhận ra rồi. Đáng lẽ tôi không bao giờ nên cò kè mặc cả khi trang bị cho một hiệp sĩ như ngài mới phải."

Porthos lặng thinh không đáp, dứt khoát lùi lại bước thứ hai. Trong cơn hoảng loạn, phu nhân biện lý tưởng chừng như thấy anh đang đứng giữa một đám mây rực rỡ, xung quanh là vô số các nữ công tước, nữ hầu tước đang thi nhau ném những túi tiền vàng xuống dưới chân anh.

"Xin ngài hãy dừng chân, nhân danh Chúa trời, ngài Porthos!" bà thảng thốt nài nỉ. "Xin dừng lại, để chúng ta có thể nói chuyện đàng hoàng."

"Nói chuyện với bà chỉ mang lại rủi ro cho tôi mà thôi," Porthos hờ hững buông lời.

"Nhưng, xin hãy cho tôi biết, ngài yêu cầu điều gì?"

"Chẳng có gì cả. Bởi yêu cầu cũng đồng nghĩa với việc tôi đang đi xin xỏ bà."

Phu nhân biện lý cuống cuồng bám chặt lấy cánh tay của Porthos. Trong nỗi khổ tâm tột cùng, bà van vỉ: "Ngài Porthos, tôi thật sự mù tịt về mấy chuyện như thế này! Làm sao tôi biết một con chiến mã phải trông như thế nào? Làm sao tôi biết yên cương ra sao mới là đồ tốt?"

"Vậy thì đáng ra bà nên giao phó chuyện đó cho tôi, thưa bà. Tôi thừa biết chúng phải ra sao. Nhưng bà lại nổi lòng tham muốn tiết kiệm, và rốt cuộc lại hành xử như bọn cho vay nặng lãi."

"Tôi đã sai rồi, ngài Porthos. Nhưng tôi sẽ lập tức sửa chữa lỗi lầm này, tôi xin lấy danh dự ra thề."

"Bằng cách nào cơ?" chàng lính ngự lâm dò hỏi.

"Xin ngài hãy nghe tôi. Tối nay ngài Coquenard sẽ đến nhà Công tước de Chaulnes vì được ngài ấy cho gọi. Đó là một buổi họp bàn công việc, sẽ kéo dài ít nhất ba giờ đồng hồ. Ngài hãy đến nhé! Chúng ta sẽ được ở riêng, và tôi có thể thu xếp chuyện tiền nong cho ngài."

"Thật đúng lúc. Giờ thì bà nói nghe lọt tai rồi đấy, người đẹp ạ."

"Ngài chịu tha thứ cho tôi chứ?"

"Để xem thế nào đã," Porthos đáp lời đầy uy nghi. Thế rồi, cả hai chia tay nhau kèm theo lời hứa hẹn: "Hẹn tối nay nhé."

"Chết tiệt thật!" Porthos đắc ý thầm nghĩ khi bước đi, "có vẻ như cuối cùng thì ta cũng mon men đến gần cái két sắt của ngài Coquenard rồi."



  1. Đồng vàng kép (doubloon) là một loại tiền xu bằng vàng của Tây Ban Nha có giá trị rất lớn thời bấy giờ, thường được dùng trong giao thương quốc tế và giới quý tộc. Việc một người đưa thư mang theo số tiền lớn như vậy cho thấy xuất thân quyền quý của người gửi. 

  2. Vincent Voiture và Isaac de Benserade là hai nhà thơ nổi tiếng và có sức ảnh hưởng lớn tại triều đình Pháp thế kỷ 17. Bazin nhắc đến họ để ca ngợi tài năng sáng tác của chủ mình đạt đến đẳng cấp cao nhất thời bấy giờ. 

  3. Burgundy (hay Bourgogne) là một vùng ở miền đông nước Pháp, nổi danh toàn châu Âu từ thời Trung cổ với những loại rượu vang hảo hạng bậc nhất. 

  4. "Cua-ron" (écu/crown) là một loại tiền kim loại cổ của Pháp và châu Âu, thường in hình chiếc vương miện. Ba đồng cua-ron là một số tiền rất nhỏ, ngụ ý con ngựa đã bị bán đi với giá rẻ mạt. 

  5. Andalusia là một vùng ở miền nam Tây Ban Nha, từ lâu đã nổi tiếng khắp châu Âu với việc lai tạo ra những giống ngựa và la có chất lượng hảo hạng, vô cùng khỏe mạnh và oai vệ.